Kế toán quản trị - Bài 6: Sử dụng thông tin kế toán quản trị để ra quyết định về giá

pdf 14 trang vanle 15/05/2021 1720
Bạn đang xem tài liệu "Kế toán quản trị - Bài 6: Sử dụng thông tin kế toán quản trị để ra quyết định về giá", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdfke_toan_quan_tri_bai_6_su_dung_thong_tin_ke_toan_quan_tri_de.pdf

Nội dung text: Kế toán quản trị - Bài 6: Sử dụng thông tin kế toán quản trị để ra quyết định về giá

  1. Bài 6: Sử dụng thông tin kế toán quản trị để ra quyết định về giá BÀI 6: SỬ DỤNG THÔNG TIN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ ĐỂ RA QUYẾT ĐỊNH VỀ GIÁ Giới thiệu Quyết định giá của các nhà quản trị doanh nghiệp sẽ tác động đến tất cả các lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến kết quả cuối cùng của doanh nghiệp. Trong bài này chúng ta sẽ đề cập đến việc sử dụng các thông tin kế toán quản trị để ra quyết định về giá – đầu ra của doanh nghiệp. Nội dung Mục tiêu Tầm quan trọng của quyết định giá bán. Sau khi học bài này, học viên có thể: Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết Nắm được tầm quan trọng của quyết định định giá bán. giá bán. Các phương pháp định giá. Phân tích được các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định giá bán của doanh nghiệp. Nắm vững các phương pháp định giá bán Thời lượng học cơ bản của doanh nghiệp. 4 tiết ACC304_Bai 6_v1.0010110228 121
  2. Bài 6: Sử dụng thông tin kế toán quản trị để ra quyết định về giá TÌNH HUỐNG KHỞI ĐỘNG BÀI Tình huống dẫn nhập Công ty may Hưng Thịnh thiết kế và sản xuất một loại áo sơ mi mới, trên cùng dây chuyền sản xuất. Câu hỏi Bạn là nhân viên kế toán quản trị của công ty, được Ban Giám đốc đề nghị đưa ra các phương án giá bán khác nhau để Ban Giám đốc quyết định. Bạn sẽ làm gì? 122 ACC304_Bai 6_v1.0010110228
  3. Bài 6: Sử dụng thông tin kế toán quản trị để ra quyết định về giá 6.1. Tầm quan trọng và các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định giá bán 6.1.1. Tầm quan trọng của quyết định giá bán Quyết định về giá bán sản phẩm hoặc dịch vụ là một trong những quyết định quan trọng nhất và khó khăn mà nhà quản lý phải thực hiện. Lý do là vì việc xác định giá sản phẩm không phải chỉ là một quyết định của quá trình tiếp thị hoặc một quyết định có tính chất tài chính, đúng hơn, đó là một quyết định có liên quan đến tất cả các lĩnh vực hoạt động của công ty, và vì vậy nó ảnh hưởng đến toàn công ty. Vì mức giá tính cho một sản phẩm có ảnh hưởng lớn đến việc quyết định khối lượng khách hàng sẽ mua sản phẩm đó và do vậy nó sẽ ảnh hưởng đến thu nhập và thị phần của công ty. Nếu doanh thu không bù đắp được tất cả các chi phí của công ty thì trong tương lai công ty sẽ không thể tồn tại. Điều này luôn đúng, cho dù các chi phí được kiểm soát chặt chẽ và người quản lý có sáng tạo trong công việc thực hiện các nhiệm vụ của mình như thế nào đi nữa. Trong bài này, chúng ta sẽ nghiên cứu các quyết định về giá bán, trong đó nhấn mạnh đến vai trò của thông tin kế toán quản trị, đặc biệt là thông tin về chi phí. Mục đích chính của bài này là xem xét một số khái niệm chi phí đã được triển khai trong các bài trước và nghiên cứu các loại chi phí này được áp dụng như thế nào vào quá trình định giá. 6.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định giá bán Các nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định về giá bán sản phẩm hoặc dịch vụ bao gồm: Nhu cầu của khách hàng. Chi phí sản xuất, bán hàng. Các hành động của đối thủ cạnh tranh. Các vấn đề về luật pháp, chính trị, hình ảnh của công ty trong dân chúng. Nhu cầu của khách hàng Nhu cầu của khách hàng là một nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến tất cả các hoạt động của một doanh nghiệp, từ việc thiết kế sản phẩm cho đến việc thiết lập giá bán. Nhà quản lý phải xem xét mức giá mà khách hàng sẵn sàng chi trả cho sản phẩm và dịch vụ. Tất nhiên nhà quản lý phải xem xét giá bán đặt trong mối quan hệ với chất lượng sản phẩm mà khách hàng mong muốn. Hai yếu tố này có tính đánh đổi lẫn nhau. Các doanh nghiệp thường sử dụng các nghiên cứu thị trường, thực nghiệm tiếp thị sản phẩm, v.v để thu thập các thông tin quan trọng này. ACC304_Bai 6_v1.0010110228 123
  4. Bài 6: Sử dụng thông tin kế toán quản trị để ra quyết định về giá Để xác định cầu của một loại sản phẩm hàng hóa dịch vụ nào đó, bộ phận bán hàng và marketing phải nghiên cứu thị trường thông qua các điều tra, thống kê và các thông tin phản hồi về sản phẩm từ phía khách hàng. Nghiên cứu thị trường cho sản phẩm của một dự án còn phải điều tra những khoảng trống còn lại của cầu sản phẩm, của dự án. Cụ thể là các khoảng trống thị trường mà sản phẩm của dự án còn có thể chen chân vào, là hiệu số giữa cung và cầu hiện tại trên thị trường về sản phẩm của dự án. Chi phí sản xuất bán hàng Chi phí là một yếu tố quan trọng cần được xem xét kỹ lưỡng khi quyết định về giá bán của sản phẩm và dịch vụ. Trong hầu hết các ngành công nghiệp, cả yếu tố về thị trường và chi phí cùng được xem xét khi định giá bán. Không có doanh nghiệp nào có thể định giá bán sản phẩm hoặc dịch vụ của mình dưới chi phí sản xuất trong dài hạn. Và cũng không có nhà quản lý nào ra quyết định về giá mà không xem xét đến thị trường. Các thiết lập giá bán có thể tóm tắt trong sơ đồ sau đây: Chi phí Tác động thị trường Giá bán được xác định bởi thị Giá bán được thiết lập dựa trên chi trường, tất nhiên giá phải trang trải phí, và xem xét đến nhu cầu, hành đủ các chi phí trong dài hạn. động của đối thủ cạnh tranh. Các ngành nghề khác nhau thì việc xác định giá bán dựa trên cơ sở chi phí sẽ rất khác nhau. Việc xác định giá bán phải dựa trên cả cơ sở chi phí và cân bằng với các thế lực của thị trường như phản ứng của khách hàng và của các đối thủ cạnh tranh. Đối thủ cạnh tranh Một doanh nghiệp không thể định giá bán mà không để ý đến sản phẩm và chiến lược định giá của các doanh nghiệp cạnh tranh. Các doanh nghiệp thường tìm cách thu thập thông tin để dự báo các hành vi của đối thủ cạnh tranh, nếu không doanh thu của doanh nghiệp sẽ bị mất mỗi khi các đối thủ cạnh tranh định giá bán thấp hơn cho các sản phẩm cùng loại với chất lượng tương đương. Các yếu tố khác Ngoài ra, trong khi định giá bán nhà quản lý cũng phải xem xét đến những vấn đề về luật pháp, chính trị, và hình ảnh của doanh nghiệp trước công chúng. Ví dụ như chính sách chống phá giá một loại hàng hóa nào đó có ảnh hưởng đến sự xáo trộn nền kinh tế nói chung, hay những quy định về giá trần cho các sản phẩm sẽ có tác động đến hoạt động của các doanh nghiệp và ngay cả đến đời sống của đại đa số người dân 124 ACC304_Bai 6_v1.0010110228
  5. Bài 6: Sử dụng thông tin kế toán quản trị để ra quyết định về giá ơ 6.2. Các phương pháp định giá Kế toán quản trị sử dụng các thông tin của kế toán quản trị để đưa ra quyết định về giá bán dựa trên chi phí của doanh nghiệp. Đây là cơ sở đầu tiên trong chính sách định giá. Về nguyên tắc, nhà quản trị sử dụng chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm làm mức giá sàn (floor price) từ đó quyết định các giá bán trong ngắn hạn và trong dài hạn. Công thức tổng quát: Giá bán = Chi phí + (tỷ lệ cộng thêm vào chi phí Chi phí) Khái niệm chi phí ở đây có thể được hiểu là chi phí đơn vị, cũng có thể là chi phí sản xuất đơn vị hay chi phí biến đổi. Tỷ lệ (mức) cộng thêm vào chi phí này được xác định tùy thuộc vào số liệu chi phí nào được sử dụng trong công thức định giá sao cho công ty đạt được lợi nhuận mục tiêu. 6.2.1. Định giá dựa trên giá thành sản xuất Đây là phương pháp mà hầu hết các nhà quản trị áp dụng để xác định giá bán vì: (1) họ có nhiều loại sản phẩm hàng hóa, dịch vụ để bán và không đủ thời gian phân tích cầu và chi phí biên cho từng loại sản phẩm. (2) Mặc dù giá sản phẩm bị chi phối bởi các thế lực thị trường nhưng các nhà quản trị vẫn có một cơ sở ban đầu để xác định giá bán, chính là chi phí. (3) Giá bán không thể nào thấp hơn giá vốn. Doanh nghiệp luôn tìm cách có được giá bán đủ trang trải và bù đắp chi phí. Theo phương pháp xác định giá bán trên giá thành sản xuất, ta có: Giá bán = Giá thành sản xuất (1 + % cộng thêm) Nói cách khác, theo phương pháp này, giá bán dựa trên toàn bộ chi phí sản xuất bao gồm cả chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp (Absorption (or full) manufacturing). Bên cạnh đó, nhà quản trị có thể áp dụng phương pháp Tổng chi phí (all cost) để xác định giá bán, khi đó: Giá bán = Tổng chi phí (1 + % cộng thêm) Khi đó tổng chi phí sẽ bao gồm cả chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất (chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp). 6.2.2. Định giá dựa trên chi phí biến đổi (Variable cost) Phương pháp này chỉ dựa trên tổng chi phí biến đổi, bao gồm cả chi phí biến đổi ở khâu sản xuất và chi phí biến đổi ở khâu bán hàng và quản lý doanh nghiệp (hay là chi phí ngoài sản xuất – chi phí lưu thông). Giá bán = Chi phí biến đổi (1 + % cộng thêm) Ví dụ Có số liệu về các khoản mục chi phí tính giá thành một sản phẩm tại một công ty như sau: ACC304_Bai 6_v1.0010110228 125
  6. Bài 6: Sử dụng thông tin kế toán quản trị để ra quyết định về giá Khoản mục chi phí Số tiền (nghìn đồng) Chi phí sản xuất trực tiếp biến đổi 400 Phân bổ chi phí sản xuất chung biến đổi 250 Tổng chi phí sản xuất 650 Chi phí bán hàng và chi phí quản lý biến đổi 50 Phân bổ chi phí bán hàng và chi phí quản lý biến đổi 100 Tổng chi phí 800 Chi phí sản xuất biến đổi 400 Chi phí bán hàng và chi phí quản lý biến đổi 50 Tổng chi phí biến đổi 450 Khi đó giá bán của công ty sẽ được xác định như sau: (1) Căn cứ vào chi phí sản xuất biến đổi: Giá bán = Chi phí sản xuất biến đổi (1 + % cộng thêm) = 400 (1 + 131,25%) = 925 (nđ) (2) Căn cứ vào tổng chi phí sản xuất: Giá bán = Chi phí sản xuất (1 + % cộng thêm) = 650 (1 + 42,3%) = 925 (nđ) (3) Căn cứ vào tổng chi phí: Giá bán = Tổng chi phí (1 + % cộng thêm) = 800 (1 + 15,63%) = 925 (nđ) (4) Căn cứ vào chi phí biến đổi: Giá bán = Chi phí biến đổi (1 + % cộng thêm) = 450 (1 + 105,562%) = 925 (nđ) Vậy làm thế nào để xác định được tỷ lệ cộng thêm? Nguyên tắc xác định phần cộng thêm là dựa trên lợi nhuận, cụ thể là dựa trên suất sinh lời đòi hỏi của vốn đầu tư (RROI – required Return on Investment). Ví dụ: Tổng vốn đầu tư trung bình hàng năm của công ty sản xuất máy tính SUNTAC là 300.000 USD; RROI là 20%, lợi nhuận đòi hỏi hằng năm là 60.000 (nđ) (20% vốn đầu tư trung bình hằng nă m). Trong năm 200N, công ty sản xuất 480 sản phẩm, bình quân mỗi tháng là 40 sản phẩm. Như vậy, lợi nhuận đòi hỏi bình quân cho mỗi sản phẩm là: 60.000/480 = 125 (nđ) Các dữ liệu chi phí cho năm 200N được mô tả ở bảng sau: 126 ACC304_Bai 6_v1.0010110228
  7. Bài 6: Sử dụng thông tin kế toán quản trị để ra quyết định về giá Khoản mục chi phí Số tiền Tổng cộng Chi phí biến đổi: – Sản xuất 192.000 – Bán hàng và quản lý 24.000 Cộng chi phí biến đổi 216.000 Chi phí cố định: – Sản xuất 120.000 – Bán hàng và quản lý 48.000 Cộng chi phí cố định 168.000 Tổng chi phí 384.000 Vì khối lượng sản phẩm sản xuất trong năm 200N là 480 sản phẩm, do vậy, tổng chi phí bình quân cho 1 sản phẩm sẽ là: 384.000/480 = 800 USD. Giá bán được xác định tổng quát như sau: Giá bán = Tổng chi phí + lợi nhuận mục tiêu = 800 + 125 = 925. (a) Tỷ lệ cộng thêm theo tổng chi phí sẽ là: Lợi nhuận đòi hỏi/(khối lượng sản phẩm tổng chi phí 1 sản phẩm) = 60.000/(480 800) hay = 125/800 = 0,1563 (hay 15,63%) (b) Tỷ lệ cộng thêm theo tổng chi phí biến đổi: Tỷ lệ cộng thêm Lợi nhuận mục tiêu + Tổng chi phí cố định = theo chi phí biến đổi Khối lượng sản phẩm chi phí biến đổi 1 sản phẩm 60.000 + 168.000 = = 1,0556 (hay 105,56%) 480 450 (c) Tỷ lệ cộng thêm theo chi phí sản xuất biến đổi: Tỷ lệ cộng thêm Lợi nhuận mục tiêu + Các chi phí còn lại = theo chi phí sản xuất Khối lượng Chi phí sản xuất biến đổi sản phẩm biến đổi 1 sản phẩm Trong đó: Chi phí bán hàng và chi phí quản lý biến đổi: 24.000 Chi phí bán hàng và chi phí quản lý cố định: 48.000 Chi phí sản xuất cố định: 120.000 Tổng chi phí còn lại: 192.000 Thay giá trị vào công thức chúng ta có: ACC304_Bai 6_v1.0010110228 127
  8. Bài 6: Sử dụng thông tin kế toán quản trị để ra quyết định về giá Tỷ lệ cộng thêm theo chi phí 60.000 + 192.000 = = 1,3125 (hay 131,25%) sản xuất biến đổi 480 400 (d) Tỷ lệ cộng thêm theo tổng chi phí sản xuất: Tỷ lệ cộng thêm Lợi nhuận mục tiêu + Tổng chi phí bán hàng và quản lý theo tổng chi phí = Khối lượng sản phẩm Chi phí sản xuất 1 sản phẩm sản xuất 60.000 + 72.000 = = 0,4230 (hay 42,3%) 480 650 Trong đó: Chi phí sản xuất biến đổi: 192.000 Chi phí sản xuất cố định: 120.000 Tổng chi phí sản xuất: 312.000 Chi phí sản xuất (CPSX) cho 1 sản phẩm: 312.000/480 = 650 USD Và Chi phí bán hàng và chi phí quản lý biến đổi: 24.000 Chi phí bán hàng và chi phí quản lý cố định: 48.000 Tổng chi phí bán hàng và chi phí quản lý: 72.000 Công thức chung để tính tỷ lệ cộng thêm (markup percentage) Lợi nhuận Tổng chi phí chưa bao Tỷ lệ cộng thêm + dựa theo mục tiêu gồm trong chi phí nền = chi phí của Khối lượng Chi phí nền đơn vị của phương pháp sản phẩm sản phẩm 6.2.3. Định giá sản phẩm mới Sản phẩm mới được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm những sản phẩm chưa có trên thị trường hoặc những sản phẩm tương tự như sản phẩm đã có nhưng khác nhau về mẫu mã, thay đổi về chất lượng Việc định giá bán đối với sản phẩm mới là công việc phức tạp và có ý nghĩa quan trọng, nó có tính chất thách thức và không chắc chắn vì không đủ thông tin tin cậy về sở thích, thị hiếu, về khả năng tiêu thụ và thay thế cho những sản phẩm cũ, do vậy nó đòi hỏi doanh nghiệp phải xây dựng một chính sách giá bán hợp lý để có thể chiếm lĩnh thị trường mới giành độc quyền và mở rộng quy mô. Thực tế cho thấy, khi định giá bán sản phẩm mới, doanh nghiệp thường định giá trên cơ sở tiếp thị, quảng cáo, giới thiệu sản phẩm 128 ACC304_Bai 6_v1.0010110228
  9. Bài 6: Sử dụng thông tin kế toán quản trị để ra quyết định về giá Việc tiếp thị, quảng cáo, giới thiệu sản phẩm cần tiến hành ở các nơi đã xác định, lựa chọn có khả năng tiêu thụ nhiều nhất và phải ở các vùng khác nhau trên cơ sở đó tiến hành phân tích, đánh giá để đưa ra một mức giá hợp lý cho việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm mới ở các kỳ tiếp theo. Có hai phương pháp định giá thường được doanh nghiệp áp dụng để định giá sản phẩm mới là định giá hớt váng và định giá thâm nhập. Định giá hớt váng (skimming pricing) Chiến lược hớt váng (còn gọi là chiến lược phủ đòn) với nguyên tắc định giá thật cao ban đầu mà không cần dựa vào một cơ sở nào nhằm thu được lợi nhuận, tất nhiên số lượng tiêu thụ thấp. Đối tượng khách hàng ban đầu là những người cần đến sản phẩm với “bất cứ giá nào”. Sau đó giảm giá dần và thu hút thêm một số đối tượng khách hàng mới. Chiến lược này thường áp dụng cho những sản phẩm “độc nhất vô nhị”, chưa có đối thủ cạnh tranh trong giai đoạn đầu tung ra thị trường. Minh họa cho loại chiến lượng này là hàng điện tử như điện thoại di dộng, máy vi tính, trò chơi điện tử, xe hơi, xe gắn máy đời mới Định giá thâm nhập (penetration pricing) Nguyên tắc của định giá là dựa trên một giá thấp để giành lấy thị phần, gia tăng khối lượng tiêu thụ và qua đó tăng dần lợi nhuận (tận dụng đòn bẩy kinh doanh). Ngược lại với cách định giá trên, một số doanh nghiệp lại xây dựng chiến lược định giá bán sản phẩm của mình theo cách lúc đầu đưa ra mức giá vừa phải để có thể đủ trang trải, bù đắp được chi phí, chờ đến khi sản phẩm mới đã trở thành thông dụng, phổ biến, thành nhu cầu cần thiết và đã chiếm lĩnh được thị trường thì họ sẽ tăng giá cao dần để thu được lợi nhuận nhiều hơn. Loại sản phẩm theo dòng chiến lược này thường quan tâm đến chất lượng nhưng cũng không có những điểm nổi trội hơn so với các sản phẩm của đối thủ cạnh tranh. Ví dụ: Sản phẩm may mặc, sữa đóng hộp, hàng nhựa, chất tẩy rửa, nước suối Tuy nhiên, do tâm lý của người tiêu dùng khó chấp nhận tăng giá hơn là giảm giá nên doanh nghiệp cần tiến hành điều tra, nghiên cứu một cách có hệ thống, có cơ sở chắc chắn để có chiến lược tăng tốc vào những kho ảng thời gian nhất định, tránh khả năng không tiêu thụ được sản phẩm với khối lượng và giá cả mong muốn. 6.2.4. Định giá trong một số trường hợp đặc biệt Chúng ta biết rằng, không phải tất cả các quyết định định giá liên quan đến các sản phẩm sản xuất hàng loạt đều như nhau, có rất nhiều quyết định giá liên quan đến các trường hợp đặc biệt hoặc bất thường. Chẳng hạn như trong trường hợp công ty nhận được đơn đặt hàng hoàn toàn mới và họ yêu cầu một mức giá đặc biệt cho đơn hàng này hoặc công ty đang hoạt động trong những điều kiện sau: Còn năng lực sản xuất nhàn rỗi. Hoạt động trong điều kiện khó khăn. Phải đương đầu với các đối thủ cạnh tranh mạnh. Tất cả những tình huống trên là những trường hợp đặc biệt và mọi công ty phải xét tới khi định giá. Các nhà quản lý cho rằng, những vấn đề đặc biệt này có thể được giải ACC304_Bai 6_v1.0010110228 129
  10. Bài 6: Sử dụng thông tin kế toán quản trị để ra quyết định về giá quyết dễ dàng bằng cách định giá theo chi phí biến đổi (cách định giá cộng thêm vào chi phí với chi phí nền là chi phí biến đổi. Mô hình định giá tổng quát theo phương pháp định giá theo chi phí biến đổi có dạng như sau: Chi phí biến đổi: Nguyên vật liệu trực tiếp xx Nhân công trực tiếp xx Chi phí sản xuất chung biến đổi xx Chi phí bán hàng và chi phí quản lý biến đổi xx Tổng chi phí biến đổi xx Giá nền Phần tiền cộng thêm (để bù đắp) xx Phạm vi định giá Chi phí cố định và đạt lợi nhuận mong muốn xx Giá trần Giá bán xxx Giá trần phản ánh mức giá mà công ty mong muốn đạt được khi bán sản phẩm trong dài hạn. Giá nền là giới hạn thấp nhất của giá bán mà công ty có thể thiết lập cho sản phẩm, nó chính là chi phí biến đổi để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Trong những điều kiện đặc biệt, nhà quản lý có thể xem xét phạm vi linh hoạt của mức giá để quyết định giá bán phù hợp. Giá bán trong trường hợp đặc biệt được xác định công thức sau: Giá bán mong muốn (linh hoạt) = Chi phí biến đổi + Phần tiền cộng thêm Định giá với khách hàng nước ngoài Khi doanh nghiệp có được đơn đặt hàng với khách hàng nước ngoài đòi hỏi doanh nghiệp phải xác định được phạm vi giá linh hoạt để có thể duy trì được khách hàng lâu dài. Khi đó giá linh hoạt này là giá tối ưu, có thể chấp nhận được chứ không nên cứng nhắc mà để mất hợp đồng, thị trường tiêu thụ. Định giá với số lượng đơn đặt hàng nhiều Trường hợp này đòi hỏi doanh nghiệp cần lưu ý đến các điều kiện cụ thể sau: o Khi doanh nghiệp còn khả năng, năng lực sản xuất chưa tận dụng hết mà doanh thu không thể tăng thêm với giá bán hiên tại thì có thể chấp nhận các đơn đặt hàng với giá bán thấp hơn mong muốn nhưng cao hơn chi phí biến đổi đơn vị. o Nếu doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc sản xuất và tiêu thụ có nguy cơ bị giảm mạnh thì doanh nghiệp nên chấp nhận giảm giá chứ không nên đình chỉ sản xuất. o Nếu doanh nghiệp phải cạnh tranh để trúng thầu các đơn đặt hàng mới, hoặc để có thị trường tiêu thụ mới thì việc định giá theo “giá linh hoạt” sẽ giúp cho doanh nghiệp đưa ra giá để trúng thầu và nếu được thì doanh nghiệp có khả năng mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh và tăng thêm lợi nhuận. o Với cách định giá bán sản phẩm theo phương pháp định giá trực tiếp dựa vào chi phí biến đổi và phần chi phí cộng thêm làm giá bán mục tiêu, các nhà hoạch định chính sách giá sẽ có được thông tin cụ thể chi tiết hơn so với việc định giá thành sản phẩm sản xuất của sản phẩm tiêu thụ, đồng thời những thông tin này 130 ACC304_Bai 6_v1.0010110228
  11. Bài 6: Sử dụng thông tin kế toán quản trị để ra quyết định về giá lại có sự tương ứng với nội dung của mối quan hệ giữa chi phí – khối lượng và lợi nhuận. Mặt khác, cách định giá này cung cấp cho người định giá một phạm vi giá linh hoạt, có thể có được quyết định nhanh trong việc định giá sản phẩm, đặc biệt trong trường hợp cạnh tranh thắng thầu các đơn đặt hàng. ACC304_Bai 6_v1.0010110228 131
  12. Bài 6: Sử dụng thông tin kế toán quản trị để ra quyết định về giá TÓM LƯỢC CUỐI BÀI Quyết định về giá bán là một trong những quyết định khó khăn và nhiều thách thức đối với các nhà quản lý. Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến quyết định về giá bán: nhu cầu của khách hàng, hành động của đối thủ cạnh tranh, chi phí sản xuất và tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ, và các vấn đề về luật pháp, chính trị Các mô hình định giá của các nhà kinh tế chứa đựng các lý thuyết cơ bản đối với các quyết định về giá. Vì các mô hình này có bản chất lý thuyết, và vì thông tin đặc thù cần thiết đối với việc áp dụng trực tiếp các mô hình này rất hiếm khi có sẵn, đầy đủ và chính xác. Chính vì thế các công ty thường sử dụng các công thức tính giá đã được giới thiệu. Các quyết định về giá bán có thể chia làm ba nhóm chính: Định giá các sản phẩm sản xuất hàng loạt trong những tình huống bình thường. Định giá các sản phẩm mới. Định giá trong các tình huống đặc biệt. Định giá đối với các sản phẩm thông thường và sản phẩm mới thường được thực hiện bằng cách áp dụng các công thức tính giá cộng thêm vào chi phí. Những công thức này đòi hỏi việc lựa chọn chi phí nền mà từ đó người ta cộng thêm một khoản tiền nhất định vào chi phí nền này để thiết lập chỉ tiêu về giá bán. Định giá theo cách cộng thêm vào chi phí có thể chọn lựa một trong ba cách: (1) cách cộng thêm vào chi phí đơn vị (chọn chi phí nền là chi phí đơn vị), (2) cách cộng thêm vào chi phí sản xuất (chi phí nền là chi phí sản xuất đơn vị) và (3) cách cộng thêm vào chi phí biến đổi (chi phí nền là chi phí biến đổi đơn vị). Công thức tổng quát cho cách tính giá này là: Giá bán = Chi phí + (Tỷ lệ cộng thêm vào chi phí Chi phí) Các tổ chức dịch vụ như các cửa hàng sửa chữa và dịch vụ chuyên môn (kế toán, luật, tư vấn quản trị) thường sử dụng một phương pháp định giá gọi là định giá theo thời gian lao động và nguyên liệu sử dụng. Theo cách này, mức giá của sản phẩm hoặc dịch vụ bao gồm hai thành phần: giá tính cho thời gian lao động và giá tính cho nguyên vật liệu tiêu hao. Mức giá tính cho từng yếu tố được tính toán sao cho bù đắp các chi phí của sản phẩm hoặc dịch vụ và đảm bảo mức sinh lời mong muốn. Định giá sản phẩm mới là một quyết định nhiều thách thức và rủi ro cao. Định giá sản phẩm mới thường khó khăn hơn định giá sản phẩm đã tồn tại rất nhiều vì có nhiều yếu tố không chắc chắn liên quan đến sản phẩm mới như nhu cầu, sự cạnh tranh, chi phí sản xuất, là không chắc chắn và khó để dự báo. Hai chiến lược định giá thường được sử dụng khi định giá sản phẩm mới là chiến lược định giá hớt váng (skimming pricing) và chiến lược định giá thâm nhập (penetration pricing). Việc định giá trong những trường hợp đặc biệt (các đơn hàng đặc biệt, còn năng lực nhàn rỗi, ) cần sự phân tích kỹ lưỡng các thông tin chi phí thích hợp và xem xét điều kiện hoạt động hiện tại của doanh nghiệp (còn năng lực nhàn rỗi hay không). Trong những tình huống định giá đặc biệt, nhà quản lý thường sử dụng cách tính giá theo chi phí biến đổi vì nó cung cấp cho nhà quản lý một phạm vi linh hoạt để thiết lập giá bán cho từng tình huống ra quyết định. 132 ACC304_Bai 6_v1.0010110228
  13. Bài 6: Sử dụng thông tin kế toán quản trị để ra quyết định về giá CÂU HỎI ÔN TẬP 1. Liệt kê và mô tả các nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định về giá bán. 2. Vị giám đốc của một doanh nghiệp phát biểu rằng: “Giá sản phẩm của doanh nghiệp chúng ta được xác định bởi thị trường. Chi phí sản xuất sản phẩm là không thích hợp cho việc thiết lập giá bán.” Bạn hãy bình luận về phát biểu của vị giám đốc này. 3. “Giá bán được xác định bởi chi phí sản phẩm. Thông tin về chi phí cận biên và doanh thu cận biên chỉ mang tính lý thuyết.” Bạn hãy đánh giá câu phát biểu trên. 4. “Trong việc xem xét hành động của đối thủ cạnh tranh, việc định vị sản phẩm của doanh nghiệp là điều hết sức quan trọng.” Hãy giải thích câu phát biểu này. 5. Hãy giải thích câu phát biểu sau: “Việc xác lập giá bán cần duy trì sự cân bằng giữa các nhân tố tác động của thị trường và chi phí của doanh nghiệp.” 6. Trình bày phương pháp định giá để đạt lợi nhuận tối đa trong kinh tế học. Bạn có thể sử dụng đồ thị để minh hoạ cho câu trả lời của mình. 7. Trình bày các hạn chế của mô hình định giá để đạt lợi nhuận tối đa. 8. Độ co giãn của cầu theo giá là gì? Vì sao việc tìm hiểu về độ co giãn của cầu theo giá là quan trọng đối với các quyết định về giá bán? 9. “Việc tìm ra được một phương pháp định giá tốt nhất là một sự đánh đổi giữa lợi ích và chi phí.” Hãy giải thích câu phát biểu này. 10. Trình bày công thức xác định giá bán dựa trên phương pháp định giá cộng thêm vào chi phí. Khi áp dụng công thức này trong định giá, những loại chi phí nào có thể được sử dụng là thành phần chi phí trong công thức này? 11. Trình bày các lợi ích của việc xác định giá bán dựa trên chi phí biến đổi (chi phí biến đổi được sử dụng làm thành phần chi phí nền trong công thức định giá bán). 12. Giải thích khái niệm “Định giá để đạt được sức sinh lời trên vốn đầu tư mong muốn”. 13. Hãy trình bày phương pháp định giá bán dựa trên thời gian lao động và nguyên liệu sử dụng. 14. Giải thích tầm quan trọng của vấn đề còn thừa năng lực hoạt động trong việc định giá đấu thầu cạnh tranh. 15. Hãy trình bày hai phương pháp định giá sản phẩm mới: phương pháp định giá hớt váng (skimming pricing) và phương pháp định giá thâm nhập (penetration pricing). ACC304_Bai 6_v1.0010110228 133
  14. Bài 6: Sử dụng thông tin kế toán quản trị để ra quyết định về giá BÀI TẬP THỰC HÀNH Bài 6.1. Số liệu về chi phí, vốn đầu tư và mức sản lượng dự kiến của công ty sản xuất lò nướng bánh như sau: (đơn vị tính: 1.000 đồng). Chi phí biến đổi đơn vị (bp) = 10. Chi phí cố định (ĐP) = 300.000 Sản lượng dự kiến (SL) = 50.000 Vốn đầu tư (tổng tài sản) = 1.000.000 Yêu cầu: Tính chi phí bình quân. Xác định giá bán cho một sản phẩm lò nướng bánh để công ty có thể đạt được tỷ lệ hoàn vốn ROI là 20%. Bài 6.2. Số liệu về chi phí và tình hình sản xuất sản phẩm X tại một công ty được ghi nhận như sau: Chi phí sản xuất biến đổi: $400 Chi phí sản xuất cố định phân bổ: 250 Chi phí bán hàng và quản lý biến đổi: 50 Chi phí bán hàng và quản lý cố định: 100 Các chi phí này là chi phí tính cho một đơn vị sản phẩm và được ước tính cho mức sản xuất và tiêu thụ 480 sản phẩm mỗi năm. Lợi nhuận mụ c tiêu của công ty là $60.000. Yêu cầu: Hãy xác định mức cộng thêm vào chi phí và xác định giá bán sản phẩm, bằng cách sử dụng công thức xác định giá bán cộng thêm vào chi phí trong các trường hợp: 1. Thành phần chi phí trong công thức định giá là chi phí sản xuất biến đổi đơn vị. 2. Thành phần chi phí trong công thức định giá là chi phí tổng biến đổi đơn vị. 3. Thành phần chi phí trong công thức định giá là chi phí sản xuất đơn vị. 4. Thành phần chi phí trong công thức định giá là chi phí đơn vị. Bài 6.3. Số liệu chi phí của sản phẩm X được thu thập tại Công ty ABC như sau: Chi phí sản xuất biến đổi: $250 Chi phí sản xuất cố định phân bổ: 50 Chi phí bán hàng và quản lý biến đổi: 60 Để thiết lập mức giá bán là $450/sản phẩm, công ty xác định mức cộng thêm vào chi phí đơn vị là 12,5%. Yêu cầu: 1. Chi phí bán hàng và quản lý cố định phân bổ cho mỗi đơn vị sản phẩm là bao nhiêu? 2. Thiết lập công thức xác định giá bán sản phẩm sao cho mức giá được xác lập là $450/sản phẩm. Xét các trường hợp: a) Chi phí nền là chi phí sản xuất đơn vị. b) Chi phí nền là chi phí biến đổi đơn vị. 134 ACC304_Bai 6_v1.0010110228