Lý thuyết tài chính tiền tệ - Chương 1: Những quan niệm cơ bản về tài chính trong nền kinh tế thị trường

doc 94 trang vanle 2340
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Lý thuyết tài chính tiền tệ - Chương 1: Những quan niệm cơ bản về tài chính trong nền kinh tế thị trường", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • docly_thuyet_tai_chinh_tien_te_chuong_1_nhung_quan_niem_co_ban.doc

Nội dung text: Lý thuyết tài chính tiền tệ - Chương 1: Những quan niệm cơ bản về tài chính trong nền kinh tế thị trường

  1. Tài chính – Tiền tệ Chương 1 Những quan niệm cơ bản về tài chính trong nền kinh tế thị trường 1.1. Tiền đề ra đời và tồn tại của tài chính Tài chính ra đời và tồn tại trong những điều kiện kinh tế xã hội, lịch sử nhất định khi mà ở đó xuất hiện nền sản xuất hàng hóa và nhà nước. 1.1.1. Sự ra đời của nền sản xuất hàng hóa Phân công lao động xã hội phát triển, đặc biệt là sự phân công giữa nông nghiệp và thủ công nghiệp đã nhanh chóng thúc đẩy các hoạt động giao lưu kinh tế đồng thời làm nên cuộc cách mạng trong công nghệ phân phối: từ phân phối bằng hiện vật sang phân phối bằng giá trị. Tiền tệ được coi là thước đo giá trị của thế giới hàng hóa và khi thực hiện giá trị hàng hóa phải gắn liền với sự vận động của tiền tệ đồng thời phát sinh thu nhập cho người sản xuất hàng hóa. Các khoản thu nhập này là nguồn hình thành những quỹ tiền tệ của các chủ thể kinh tế. Sự liên tục của quá trình sản xuất hàng hóa luôn luôn đòi hỏi các quỹ tiền tệ phải được tạo lập, phân phối, sử dụng và đây chính là xuất phát điểm làm nảy sinh các quan hệ phân phối tài chính. Như vậy, chính trong điều kiện của nền kinh tế hàng hóa với việc sử dụng tiền tệ đã làm nảy sinh phạm trù tài chính. 1.1 2 Sự xuất hiện của nhà nước Cuối thời kỳ công xã nguyên thuỷ, khi chế độ tư hữu xuất hiện, xã hội bắt đầu phân chia thành các giai cấp và có sự đấu tranh giữa các giai cấp trong xã hội. Chính sự xuất hiện sản xuất và trao đổi hàng hoá và tiền tệ là một trong các nguyên nhân chủ yếu thúc đẩy mạnh mẽ sự phân chia giai cấp và đối kháng giai cấp. Trong điều kiện lịch sử đó, Nhà nước đã xuất hiện. Nhà nước ra đời, để duy trì quyền lực của mình, cần phải có sự đóng góp của các công dân dưới hình thức thuế và công trái để tạo lập ra quỹ tiền tệ riêng - ngân sách ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 1
  2. Tài chính – Tiền tệ Nhà nước và các quỹ tài chính khác phục vụ cho hoạt động của mình và thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, hình thành lĩnh vực tài chínhNhà nước. Nhà nước bằng chính sách, cơ chế, luật pháp luôn luôn tác động, thúc đẩy kinh tế hàng hóa- tiền tệ phát triển, tác động tới sự vận động độc lập của tiền tệ và tạo ra môi trường thuận lợi cho sự hình thành và sứ dụng các quỹ tiền tệ của các chủ thể trong xã hôi. Chính trong những điều kiên đó các quan hệ tài chính nảy sinh, tồn tại và phát triển và cung chính vì vậy người ta cho rằng sự tồn tại của nền sân xuất hàng hóa- tiền tệ và nhà nước được coi là những tiền đề phát sinh và phát triển của tài chính. Những phân tích kể trên lại cho nhận xét thêm rằng, trong 2 tiền đề kể trên thì sản xuất hàng hoá - tiền tệ là nhân tố mang tính chất khách quan có ý nghĩa quyết định đối với sự ra đời, tồn tại và phát triển của tài chính và Nhà nước là nhân tố có ý nghĩa định hướng tạo ra hành lang và điều tiết sự phát triển của tài chính. 1.2.Bản chất và chức năng của tài chính 1.2.1. Bản chất của tài chính Tài chính, như mọi đối tượng nghiên cứu khác, có hình thức biểu hiện bên ngoài (hiện tượng) và nội dung bên trong (bản chất) của nó. 1.2.1.1. Biểu hiện bên ngoài Khi quan sát thực tiễn các quá trình vận động kinh tế xã hội (ví dụ: doanh nghiệp nộp thuế bằng tiền cho Nhà nước; người dân mua cổ phiếu, trái phiếu của các doanh nghiệp )có thể nhận thấy các biểu hiện bên ngoài của tài chính thể hiện ra dưới dạng các hiện tượng thu vào bằng tiền và các hiện tượng chi ra bằng tiền ở các chủ thể kinh tế - xã hội. Nói cách khác hình thức biểu hiện bên ngoài của tài chính thể hiện ra như là sự vận động của vốn tiền tệ. Ở những hiện tượng trên, có thể thấy tiền tệ xuất hiện trước hết với chức năng phương tiện thanh toán (ở người chi ra) và chức năng phương tiện cất trữ (ở người thu vào). Tiền tệ đại diện cho một lượng giá trị, một thế năng về sức mua nhất định và được gọi là nguồn tài chính (hay nguồn tài lực, nguồn lực tài chính). ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 2
  3. Tài chính – Tiền tệ Như vậy, nguồn tài chính là khả năng tài chính hay tiền tệ mà các chủ thể trong xã hội có thể khai thác, sử dụng nhằm thực hiện các mục đích của mình. Nguồn tài chính có thể tồn tại dưới dạng tiền hoặc tài sản vật chất và phi vật chất. Sự vận động của các nguồn tài chính phản ánh sự vận động của những bộ phận của cải xã hội dưới hình thức giá trị (tiền tệ). Nguồn tài chính luôn thể hiện một khả năng về sức mua nhất định. Sự vận động các nguồn tài chính hình thành nên lĩnh vực tài chính và được đặc trưng bởi các quỹ tiền tệ. Các quỹ tiền tệ là một lượng nhất định các nguồn tài chính đã huy động được để sử dụng cho một mục đích nhất định. Các quỹ tiền tệ có các đặc điểm sau đây + Luôn luôn biểu hiện các quan hệ sở hữu + Bao giờ cũng thể hiện tính mục đích + Vận động thường xuyên, liên tục 1.2.1.2. Biểu hiện bản chất bên trong của tài chính Tài chính là một phạm trù kinh tế của nền kinh tế hàng hoá là hệ thống các quan hệ kinh tê phát sinh trong quá trình phân phối sản phẩm xã hội trên cơ sở đó các quỹ tiền tệ được hình thành phân phối và sử dụng để đáp ứng nhu cầu của hàng hoá và xã hội. Như vậy, biểu hiện bên trong của tài chính là các quan hệ kinh tê giữa các chủ thể trong quá trình phân phối các nguồn tài chính, quá trình phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị. Các quan hệ kinh tế như thế được gọi là các quan hệ tài chính. Các quan hệ tài chính biểu hiện mặt bản chất bên trong của tài chính ẩn dấu sau các biểu hiện bên ngoài của tài chính. Từ đó, có thể có khái niệm tổng quát về tài chính như sau: Tài chính thể hiện ra là sự vận động của vốn tiền tệ diễn ra ở mọi chủ thể trong xã hội. Nó phản ánh tổng hợp các môi quan hệ kinh tê nảy sinh trong phân phối các ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 3
  4. Tài chính – Tiền tệ nguồn tài chính thông qua việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng các nhu cầu khác nhau của các chủ thể trong xã hội. 1.2.2.Chức năng của tài chính Chức năng của tài chính là sự cụ thể hoá bản chất của tài chính, nó mở ra nội dung của tài chính và vạch rõ tác dụng xã hội của tài chính. Chức năng của tài chính là khả năng bên trong, biểu lộ tác dụng xã hội của nó và tác dụng đó chỉ có thể có được với sự tham gia nhất thiết của con người. 1.2.2.1. Chức năng phân phối - Ý nghĩa: Chức năng phân phối của tài chính là chức năng mà nhờ vào đó các nguồn lực đại diện cho những bộ phận của cải xã hội được đưa vào các quỹ tiền tệ khác nhau để sử dùng cho những mục đích khác nhau, đảm bảo những nhu cầu, những lợi ích khác nhau của đời sống xã hội. - Đối tượng phân phối Là của cải xã hội dưới hình thức giá trị, là tổng thể các nguồn tài chính có trong xã hội. Xét về mặt nội dung, nguồn tài chính - mặt giá trị của của cải xã hội là đối tượng phân phối, bao gồm các bộ phận: 1 Bộ phận của cải xã hội mới được sáng tạo ra trong kỳ. Đó là tổng sản phẩm trong nước (GDP). 2. Bộ phận của cải xã hội còn lại từ thời kỳ trước. Đó là phần tích lũy quá khứ của xã hội và dân cư. 3. Bộ phận của cải được chuyển từ nước ngoài vào và bộ phận của cải từ trong nước chuyển ra nước ngoài. 4. Bộ phận tài sản, tài nguyên quốc gia có thể cho thuê, nhượng bán có thời hạn. - Chủ thể phân phối ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 4
  5. Tài chính – Tiền tệ Là tất cả các tổ chức kinh tế xã hội, chủ thể kinh tế xã hội như: Nhà nước (các tổ chức, cơ quan nhà nước), các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, các hộ gia đình hay cá nhân dân cư. Chủ thể phân phối có thể xuất hiện trên một trong các tư cách là: 1 . Chủ thể có quyền sở hữu các nguồn tài chính. Chủ thể ở đây là những người chủ "đích thực" của vốn tiền tệ. Họ có quyền phân phối và sử dụng chúng theo ý chí chủ quan của mình. 2. Chủ thể có quyền sử đụng các nguồn tài chính. Chủ thể ở đây là những người không có quyền sở hữu vốn tiền tệ, nhưng họ được trao quyền sử dụng vốn tiền tệ. Nói khác đi, đó là những người đi vay và họ có quyền phân phối và sử dụng số vốn vay đó theo các mục đích đã định. 3. Chủ thể có quyền lực chính trị. Chủ thể muốn nói ở đây là Nhà nước. Nhà nước không phải với tư cách là người có quyền sở hữu hay quyền sử dụng các nguồn tài chính, nhưng Nhà nước vẫn có thể huy động vào tay mình các nguồn tài chính từ các tổ chức và công dân nhờ Nhà nước có quyền lực chính trị thông qua các quy định pháp luật (như thuế, phí, lệ phí. . . ). 4. Chủ thể tổ chức quan hệ của các nhóm thành viên xã hội. Chủ thể muốn đề cập ở đây là các tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, các hội, nghiệp đoàn. . . Do có sự ràng buộc của các quan hệ xã hội mà các tổ chức này là người chủ trì, các tổ chức này không phải với các lư cách kể trên (quyền sở hữu, quyền sử dụng nguồn tài chính, quyền lực chính trị) nhưng vẫn xuất hiện với tư cách chủ thể phân phối khi họ nhận được các khoản đóng góp hội phí của các thành viên, các khoản ủng hộ, đóng góp tự nguyện Như vậy: Lực lựợng chi phối chức năng này là: quyền sở hữu, quyền sử dụng của các chủ thể KTXH đối với nguồn lực tài chính. Ngoài ra còn có thể bị chi phối bởi các quan hệ xã hội, quyền lực xã hội trong cộng đồng dân tộc và quốc tế. - Kết quả của phân phối ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 5
  6. Tài chính – Tiền tệ Là sự hình thành (tạo lập) hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ ở các chủ thể trong xã hội nhằm những mục đích đã định. Trong phân phối của cải xã hội, không những tài chính mà còn có những phạm trù kinh tế khác được sử dụng với tư cách một công cụ phân phối như thương mại, giá cả, tiền lương Mỗi công cụ đó được sử dụng theo các cách khác nhau và có những đặc điểm riêng. - Đặc điểm phân phối tài chính Phân phối của tài chính mang 3 đặc điểm sau đây: + Là sự phân phối chỉ diễn ra dưới hình thức giá trị, nó không kèm theo với sự thay đổi hình thái giá trị. + Là sự phân phối luôn luôn gắn liền với sự hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ nhất định. + Là quá trình phân phối diễn ra một cách thường xuyên, liên tục bao gồm cả phân phôi lần đầu và phân phối lại. 1.1.2.2.Chức năng giám đốc - Ý nghĩa Chức năng giám đốc của tài chính cũng là một khả năng khách quan khác của phạm trù tài chính. Con người nhận thức và vận dụng khả năng khách quan này của tài chính để tổ chức công tác kiểm tra tài chính. Khi đó tài chính được sử dụng với tư cách là một công cụ kiểm tra. Đó là kiểm tra tài chính. Từ đó có thể cho rằng: Chức năng giám đốc của tài chính là chức năng mà nhờ vào đó việc kiểm tra bằng đồng tiền được thực hiện đối với quá trình vận động của các nguồn tài chính để tạo lập các quỹ tiền tệ hay sử dụng chúng theo các mục đích đã định. -Đôi tượng của giám đốc tài chính Là quá trình vận động của các nguồn tài chính, quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ. ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 6
  7. Tài chính – Tiền tệ -Chủ thể của giám đốc tài chính Là các chủ thể phân phối. Bởi vì, để cho các quá trình phân phối đạt tới tối đa tính mục đích, tính hợp lý, tính hiệu quả, bản thân các chủ thể phân phối phải tiến hành kiểm tra xem xét các quá trình phân phối đó. -Kết quả của giám đốc tài chính Là phát hiện ra những mặt được và chưa được của quá trình phân phối, từ đó giúp tìm ra các biện pháp hiệu chỉnh các quá trình vận động của các nguồn tài chính, quá trình phân phối của cải xã hội theo các mục tiêu đã định nhằm đạt hiệu quả cao của việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền lệ. - Đặc điểm: - Thứ nhất: Giám đốc của tài chính là sự giám đốc bằng tiền thông qua sử dụng chức năng thước đo giá trị và chức năng phương tiện thanh toán của tiền tệ trong vận động của tiền vốn để tiến hành giám đốc. - Thứ hai: Giám đốc bằng tiền của tài chính là sự giám đốc bằng tiền thông qua phân tích các chỉ tiêu tài chính – các chỉ tiêu phản ánh tổng hợp toàn bộ các hoạt động của xã hội và của các doanh nghiệp. - Thứ ba: Giám đốc bằng tiền của tài chính còn được thực hiện đối với sự vận động của tài nguyên trong xã hội. 1.3. Hệ thống tài chính 1.3.1. Một số khái niệm cơ bản - KN hệ thống tài chính Hệ thống tài chính là tổng thể các hoạt động tài chính trong các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tê' quốc dân, nhưng có quan hệ hữu cơ với nhau về việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ ở các chủ thể kinh tế- xã hội hoạt động trong các lĩnh vực đó. - Khái niệm về khâu tài chính (tụ điểm vốn): ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 7
  8. Tài chính – Tiền tệ Khâu tài chính là nơi hội tụ của các nguồn tài chính, nơi diễn ra việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ gắn liền với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của chủ thể trong lĩnh vực hoạt động. Hệ thống tài chính của một quốc gia là một thể thống nhất do nhiều mắt khâu tài chính hợp thành. Việc xác định chính xác có bao nhiêu mắt khâu tài chính của hệ thống đó lại tùy thuộc vào việc chỉ ra một cách đúng đắn các căn cứ lý thuyết để xác định thế nào là một khâu tài chính. Có thể chỉ ra các tiêu thức chủ yếu của một khâu tài chính là (3): - Thứ nhất, một khâu tài chính phải là một điểm hội tụ của các nguồn tài chính, là nơi thực hiện việc "bơm" và "hút" các nguồn tài chính. Nói cách khác, được coi là một khâu tài chính nếu ở đó có các quỹ tiền tệ đặc thù được tạo lập và được sử dụng. - Thứ hai, được coi là một khâu tài chính nếu ở đó các hoạt động tài chính, sự vận động của các nguồn tài chính, việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ luôn gắn liền với một chủ thể phân phối cụ thể, xác định. Các hoạt động tài chính gắn với nhiều chủ thể, sự vận động của các nguồn tài chính ở đó cung do nhiều chủ thể chi phối đều không được coi là một khâu tài chính độc lập. - Thứ ba, được xếp vào cùng một khâu tài chính nếu các hoạt động tài chính có cùng tính chất, đặc điểm, vai trò, có tính đồng nhất về hình thức các quan hệ tài chính và tính mục đích của quỹ tiền tệ trong lĩnh vực hoạt động. Ví dụ: Có nhiều hình thức tín dụng nhưng tính chất chung của sự vận động của các nguồn tài chính ở đây là có thời hạn, có hoàn trả và có lợi tức, do đó, các hoạt động tài chính ở khu vực này được xếp chung vào một khâu là Tín dụng. -KN kênh tài chính: Là tập hợp những quan hệ tài chính giữa bộ phận này với bộ phận khác, trong đó có sự vận động của giá trị hoặc đại diện của giá trị 1.3.2.Nhiệm vụ của các khâu trong hệ thống tài chính ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 8
  9. Tài chính – Tiền tệ Sơ đồ 1.1.Hệ thống tài chính Trong hệ thống tài chính thống nhất, các khâu có mối liên hệ chặt chẽ với nhau nhưng mỗi khâu có những nhiệm vụ riêng. 1.3.2.1. Ngân sách nhà nước Ngân sách nhà nước là khâu chủ đạo trong hệ thống tài chính quốc gia. Đây là một "tụ điểm" của các nguồn tài chính gắn với việc tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước - quỹ ngân sách nhà nước với mục đích phục vụ cho sự hoạt động của bộ máy nhà nước các cấp và thực hiện các chức năng của Nhà nước trong quản lý kinh tế - xã hội. Nhiệm vụ của Ngân sách nhà nước: - Một là, động viên, tập trung các nguồn tài chính cho việc tạo lập quỹ tiền tệ của Nhà nước - quỹ Ngân sách. - Hai là, phân phối và sử dụng quỹ ngân sách cho việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội (như duy trì bộ máy nhà nước, củng cố quốc phòng, an ninh, phát triển văn hoá xã hội, phát triển kết cấu hạ tầng, đầu tư kinh tế ). - Ba là, giám đốc, kiểm tra đối với các khâu tài chính khác và với mọi hoạt động kinh tế - xã hội gắn liền với quá trình thu, chi ngân sách. ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 9
  10. Tài chính – Tiền tệ Với vị trí và quy mô như thế, ngân sách nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của hệ thống tài chính quốc gia và sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. 1.3.2.2. Tài chính doanh nghiệp Nhiệm vụ của tài chính doanh nghiệp: - Một là, bảo đảm vốn và phân phối vốn hợp lý cho các nhu cầu của sản xuất kinh doanh. - Hai là, tổ chức cho vốn chu chuyển một cách liên tục và có hiệu quả. - Ba là, phân phối thu nhập và lợi nhuận của doanh nghiệp theo đúng các quy định của Nhà nước. - Bốn là, kiểm tra mọi quá trình vận động của các nguồn tài chính trong doanh nghiệp, đồng thời, kiểm tra mọi hoạt động sản xuất kinh doanh gắn liền với các quá trình đó. Tài chính doanh nghiệp có quan hệ mật thiết với tất cả các bộ phận của hệ thống tài chính trong quá trình hình thành và sử dụng vốn cho các nội dung khác nhau. Quan hệ giữa tài chính doanh nghiệp với các khâu tài chính khác có thể là trực tiếp với nhau, cũng có thể thông qua thị trường tài chính. 1.3.2.3. Bảo hiểm Quỹ bảo hiểm được hình thành từ sự đóng góp của những người (pháp nhân hoặc thể nhân) tham gia bảo hiểm và chủ yếu được sử dụng để bồi thường tổn thất cho họ khi họ gặp rủi ro bất ngờ, bị thiệt hại vật chất theo nguyên tắc đặc thù là "lấy số đông bù cho số ít". Do tính chất dịch vụ chuyên nghiệp nên phần lớn các quỹ bảo hiểm kinh doanh được tạo lập và sử dụng có tính chất thương mại, vì mục đích kinh doanh lấy lợi nhuận. Trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ bảo hiểm, trước hết bảo hiểm có quan hệ trực tiếp với các khâu tài chính khác qua việc thu phí bảo hiểm và chi bồi thường. Đồng thời, do khả năng tạm thời nhàn rỗi của các nguồn tài chính trong các ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 10
  11. Tài chính – Tiền tệ quỹ bảo hiểm, các quỹ này có thể được sử dụng tạm thời như các quỹ tín dụng và như vậy, bảo hiểm cũng có thể có quan hệ với các khâu khác thông qua thị trường tài chính. Trên ý nghĩa này có thể coi bảo hiểm như một khâu tài chính trung gian trong hệ thống tài chính 1.3.2.4. Tín dụng Nhiệm vụ của tín dụng: -Một là: Thu hút nguồn lực tài chính tạm thời nhàn rỗi theo nguyên tắc hoàn trả có thời hạn và có lợi tức; -Hai là cho vay để phát triển sản xuất kinh doanh và sinh hoạt; -Ba là cung cấp nguồn lực tài chính nhàn rỗi cho thị trường tài chính. Thông qua hoạt động của các tổ chức tín dụng, khâu tín dụng có quan hệ chặt chẽ và trực tiếp với các khâu khác của hệ thống tài chính. 1.3.2.5. Tài chính các tổ chức xã hội Các tổ chức xã hội là khái niệm chung để chỉ các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể xã hội, các hội nghề nghiệp Các tổ chức này còn được gọi là các tổ chức phi chính phủ. Các tổ chức xã hội có quỹ tiền tệ riêng để bảo đảm hoạt động của mình. Các quỹ tiền tệ ở đây được hình thành từ nhiều nguồn rất đa dạng như: đóng góp hội phí của các thành viên tham gia tổ chức; quyên góp, ủng hộ, tặng, biếu của các tập thể và cá nhân; tài trợ từ nước ngoài; tài trợ của chính phủ và nguồn từ những hoạt động có thu của các tổ chức này. Các quỹ tiền tệ của các tổ chức xã hội chủ yếu được sử dụng cho mục đích tiêu dùng trong hoạt động của các tổ chức đó. Khi các quỹ chưa được sử dụng, số dư ổn định của chúng có thể tham gia thị trường tài chính thông qua các quỹ tín dụng hoặc các hình thức khác (mua tín phiếu, trái phiếu ) do đó trở thành 1 nguồn lực tài chính. 1.3.2.6. Tài chính hộ gia đình (dân cư) ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 11
  12. Tài chính – Tiền tệ Trong dân cư (các hộ gia đình) các quỹ tiền tệ được hình thành từ tiền lương, tiền công, thu nhập của các thành viên trong gia đình do lao động hay sản xuất kinh doanh; từ nguồn thừa kế tài sản; từ nguồn biếu tặng lẫn nhau trong quan hệ gia đình hay quan hệ xã hội ở trong và từ ngoài nước; từ các nguồn khác như: lãi tiền gửi ngân hàng, lợi tức từ những khoản góp vốn, mua trái phiếu, cổ phiếu Quỹ tiền tệ của các hộ gia đình chủ yếu được sử dụng cho mục đích tiêu dùng của gia đình. Một phần nguồn tài chính của các quỹ này có thể tham gia vào quỹ ngân sách nhà nước dưới hình thức nộp thuế, phí, lệ phí; tham gia vào các quỹ bảo hiểm theo các mục đích bảo hiểm khác nhau (bảo hiểm tài sản, bảo hiểm con người, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế ); tham gia vào các quỹ tín đụng dưới hình thức gửi tiền tiết kiệm Nguồn tài chính tạm thời nhàn rỗi của các hộ gia đình cũng có thể được sử dụng để đầu tư vào sản xuất kinh doanh trong phạm vi kinh tế hộ gia đình, hoặc tham gia vào thị trường tài chính qua việc góp cổ phần, mua cổ phiếu, trái phiếu , tín phiếu . . . trở thành 1 nguồn lực tài chính. Nếu có những biện pháp thích hợp, chúng ta có thể huy động được một khối lượng vốn đáng kể từ các hộ gia đình để phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế, đồng thời còn góp phần vào việc thực hiện các chính sách về định hướng tích lũy và tiêu dùng của nhà nước. Như vậy: các khâu trong hệ thống tài chính có mối quan hệ gắn bó, chặt chẽ với nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển. Toàn bộ hệ thống tài chính thực hiện vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế quốc dân là đảm bảo nhu cầu về vốn cho phát triển kinh tế xã hội. 1.4. Thị trường tài chính (TTTC) 1.4.1. Khái niệm và vai trò của TTTC 1.4.1.1. Khái niệm TTTC Thị trường tài chính là nơi diễn ra hoạt động giao dịch và mua bán quyền sử dụng những khoản vốn thông qua các phương thức giao dịch và những công cụ tài ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 12
  13. Tài chính – Tiền tệ chính nhất định. Thị trường tài chính là tổng hòa các quan hệ cung cầu về vốn trong nền kinh tế. Đối tượng mua bán trên TTTC là quyền sử dụng các nguồn tài chính ngắn hạn hoặc dài hạn. Giá cả của sự mua bán là số lợi tức mà người mua quyền sử dụng vốn trả cho người nhượng (bán) quyền sử dụng vốn. Người mua và người bán có thể là tất cả các chủ thể đại diện cho các khâu của hệ thống tài chính. Chủ thể tham gia TTTC: tất cả các chủ thể kinh tế xã hội đại diện cho các khâu của hệ thống tài chính 1.4.1.2. Vai trò Thị trường tài chính đóng vai trò nòng cốt trong quá trình luân chuyển đồng vốn từ nhà đầu tư đến nhà sản xuất. Dòng vốn từ người cho vay - người tiết kiệm tới người vay người chi tiêu qua hai con đường: + Tài chính trực tiếp Người đi vay, vay vốn trực tiếp từ người cho vay bằng cách bán chứng khoán. + Tài chính gián tiếp Vốn được chuyển từ người cho vay tới người vay thông qua trung gian tài chính. Trung gian tài chính đứng giữa cho vay người tiết kiệm và người vay-người sử dụng và giúp chuyển vốn từ người này sang người kia. ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 13
  14. Tài chính – Tiền tệ Sơ đồ 1.2: Dòng vốn vay –cho vay Tài chính gián tiếp Các trung gian tài chính Người cho vay (người tiết Người đi vay (người sử kiệm) dụng) 1. Hộ gia đình 1. Hộ gia đình 2. Các hãng kinh doanh 2. Các hãng kinh doanh 3. Chính phủ 3. Chính phủ 4. Nước ngoài 4. Nước ngoài Các thị trường tài chính Tài chính trực tiếp Từ các hoạt động kể trên, thị trường tài chính có các vai trò cụ thể như sau: - Thị trường tài chính thúc đẩy việc tích luỹ và tập trung tiền vốn để đáp ứng nhu cầu vốn xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế. Nếu không có thị trường tài chính thì việc huy động vốn để xây dựng các cơ sở hạ tầng của Chính phủ và chính quyền địa phương sẽ bị hạn chế vì Ngân sách Chính phủ thường eo hẹp, không đủ đáp ứng nhu cầu xây dựng và chi tiêu. Thêm vào đó, sức sản xuất xã hội ngày càng phát triển và quy mô sản xuất ngày càng mở rộng thì nhu cầu tiền vốn ngày càng gia tăng. Nếu chỉ để vào nguồn tích luỹ vốn của bản thân hay qua con đường vay ngân hàng truyền thống thì không thể đáp ứng được về mặt thời gian và số lượng. Vì vậy, nếu thị trường tài chính phát triển thì thông qua đó đơn vị sản xuất và các địa phương có thể phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu huy động nhanh chóng khối lượng vốn lớn đáp ứng nhu cầu. ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 14
  15. Tài chính – Tiền tệ - Thị trường tài chính giúp cho việc sử dụng vốn có hiệu quả hơn. Việc sử dụng vốn có hiệu quả không chỉ đối với người đầu tư mà cả đối với người vay tiền để đầu tư. Người có tiền tiết kiệm, tiền nhàn rỗi nhận thức rõ giá trị thời gian của đồng tiền mà họ đang nắm giữ. Đồng tiền sẽ không sinh lợi nếu để trong két sắt hoặc gối đầu giường, mà tiền chỉ sinh lời khi nó được gửi tiết kiệm hoặc mua cổ phần . . . . Thông thường lãi thu được qua đầu tư chứng khoán cao hơn lãi trái phiếu Nhà nước hay lãi gửi tiết kiệm. Do vậy, người đi vay vốn trên thị trường tài chính cũng phải sử dụng vốn vay đó một cách hợp lý mới có thể trả lại được cho người cho vay, tạo thu nhập và tích luỹ cho chính mình. - Hoạt động thị trường tài chính tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện chính sách mở cửa, cải cách kinh tế của Chính phủ. Thông qua thị trường tài chính việc phát hành trái phiếu ra nước ngoài, bán cổ phần, tạo điều kiện thu hút vôn đầu tư nước ngoài vào các ngành sản xuất kinh doanh, dịch vụ trong nước. Thị trường tài chính nhìn chung rất nhạy cảm đối với các hoạt động kinh tế, thị trường tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế phát triển, đồng thời là thước đo hiệu quả các hoạt động kinh tế. Giá trịcổ phiếu của các công ty là một ví dụ điển hình, thị giá cổ phiếu tỷ lệ thuận với số lợi nhuận mà công ty đạt được. Chỉ số chung của thị trường chứng khoán phản ánh mức tăng trưởng của quốc gia đó trong thời gian ngắn, trung và dài hạn. - Thị trường tài chính cho phép sử dụng các chứng từ có giá, đổi tiền mặt, cho phép bán cổ phiếu, trái phiếu. Thông qua TTTC, Ngân hàng trung ương có thể căn cứ vào nhu cầu của từng thời kỳ, điều tiết hoạt động của thị trường mở để khống chế sự' co dãn cung cầu tiền tệ, tiến tới không chết quy mô và hướng đầu tư tín dụng và tiền tệ, tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế và ổn định giá trị đồng tiền. 1.4.2. Phân loại TTTC 1.4.2.1. Dựa theo phương thức huy động nguồn tài chính Thị trường tài chính được chia thành thị trường nợ và thị trường vốn cổ phần. ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 15
  16. Tài chính – Tiền tệ Ở thị trường nợ, các chủ thể huy động nguồn tài chính thông qua phương thức chung nhất là đưa ra một công cụ vay nợ. Chúng là sự thỏa thuận có tính chất hợp đồng, trong đó người vay phải thanh toán cho người giữ công cụ một khoản tiền cố định trong những khoảng thời gian đều đặn cho tới thời điểm quy định trước là đợt thanh toán cuối cùng được thực hiện. Ở thị trường vốn cổ phần, các chủ thể huy động nguồn tài chính thông qua phương thức phát hành cổ phiếu. Khi bán được cổ phiếu, các công ty cổ phần có được nguồn tài chính để hình thành, tăng thêm vốn tự có của mình. Các cổ đông (những người sở hữu cổ phiếu) sẽ là đồng sở hữu công ty cổ phần. 1.4.2.2. Căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn tài chính Dựa vào tiêu thức này, thị trường tài chính được chia thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp. - Thị trường sơ cấp là thị trường tài chính trong đó việc phát hành mới một chứng khoán được người huy động nguồn tài chính bán cho người đầu tiên mua nó. Sự hoạt động của thị trường sơ cấp huy động nguồn tài chính trong' xã hội chuyển thành vốn đầu tư cho nền kinh tế. Thông qua thị trường này, nguồn tài chính vận động từ người đầu tư sang chủ thể phát hành chứng khoán. - Thị trường thứ cấp là thị trường tài chính trong đó thực hiện giao dịch các chứng khoán đã được phát hành trên thị trường sơ cấp. Trên thị trường này diễn ra việc mua bán chứng khoán giữa các nhà đầu tư. Nguồn tài chính thu được từ việc bán chứng khoán không vận động đến chủ thể phát hành mà thuộc về nhà đầu tư đã bán lại chứng khoán cho nhà đầu tư khác. 1.4.2.3. Căn cứ vào tính chất pháp lý Căn cứ vào tính chất pháp lý, thị trường tài chính được chia thành hai bộ phận: thị trường tài chính chính thức và thị trường tài chính không chính thức. - Thị trường tài chính chính thức là bộ phận thị trường tài chính tại đó các hoạt động huy động, cung ứng, giao dịch các nguồn tài chính được thực hiện theo những ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 16
  17. Tài chính – Tiền tệ nguyên tắc, thể chế nhất định được nhà nước quy đình rõ ràng trong các văn bản pháp luật. Các chủ thể tham gia thị trường này với quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của họ được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. - Thị trường tài chính không chính thức là thị trường tài chính, ở đó các hoạt động huy động, cung ứng, giao dịch các nguồn tài chính được thực hiện theo sự thỏa thuận giữa người cung cấp nguồn tài chính và người cần nguồn tài chính không theo nguyên tắc thể chế do Nhà nước quy định. 1.4.2.4. Căn cứ vào thời gian sử dụng nguồn tài chính huy động được Dựa vào thời gian sử dụng nguồn tài chính, thị trường tàichính được phân thành thị trường tiền tệ (thị trường tài chính ngắn hạn) và thị trường vốn (thị trường tài chính dài hạn) - Thị trường tiền tệ được chuyên môn hoá trong việc chuyển giao quyền sử dụng các nguồn tài chính ngắn hạn (<1năm). Trên thị trường này chỉ có các công cụ nợ ngắn hạn (thường kỳ hạn đến một năm) được mua bán. Chủ thể huy động nguồn tài chính chỉ có quyền sử dụng nguồn tài chính huy động được trong thời gian ngắn (tới một năm). - Thị trường vốn được chuyên môn hoá đối với các nguồn tài chính được trao quyền sử dụng dài hạn (lớn hơn một năm). Trên thị trường này có các công cụ vay nợ dài hạn và cổ phiếu được mua bán. Người huy động nguồn tài chính dài hạn được quyền sử dụng nguồn tài chính huy động được trong thời gian dài. Giữa thị trường vốn và thị trường tiền tệ có mối quan hệ khăng khít với nhau. Sự phát triển mạnh mẽ của thị trường tiền tệ sẽ thúc đẩy sự phát triển của thị trường vốn . Các tổ chức tài chính trung gian trên thị trường tiền tệ có thể sử dụng kỹ thuật để chuyển đổi các nguồn tài chính có thời hạn sử dụng ngắn thành các nguồn tài chính có thời hạn sử dụng dài cung cấp cho thị trường vốn. Sự phát triển của thị trường vốn sẽ kích thích thị trường liền tệ phát triển. 1.4.3. Thị trường tài chính với doanh nghiệp ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 17
  18. Tài chính – Tiền tệ - Thị trường tài chính là nơi để các doanh nghiệp huy động nguồn ngân quỹ mới hay đầu tư những khoản tài chính nhàn rỗi tạm thời để tăng lợi nhuận. - Thị trường tài chính là nơi xác lập giá trị của doanh nghiệp qua sự đánh giá của thị trường. - Thị trường tài chính thúc đẩy tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và chuyển đổi doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thành công ty cổ phần. - Thị trường tài chính là nơi để Chính phủ tác động vào doanh nghiệp và nền kinh tế nói chung. 1.5.Chính sách tài chính quốc gia 1.5.1. Khái niệm Chính sách tài chính quốc gia là thái độ định hướng của nhà nước về sử dụng tài chính. Chính sách tài chính quốc gia là chính sách điều chỉnh các mối quan hệ kinh tế trong phân phối tổng sản phẩm xã hội dưới hình thức giá trị. Nội dung của chính sách tài chính bao gồm: chính sách về vốn, chính sách tài chính doanh nghiệp, chính sách tài khoá, chính sách tài chính đối ngoại, các chính sách về tín dụng, tiền tệ Chính sách Tài chính quốc gia được xác định cụ thể trong từng thời kỳ. Nó gắn với sự phát triển của hệ thống tài chính. 1.5.2. Mục tiêu của chính sách tài chính quốc gia Mục tiêu tổng quát của chính sách tài chính quốc gia là củng cố và tăng cường tiềm lực của nền tài chính quốc gia, trước hết là tiềm lực của ngân sách Nhà nước và tài chính doanh nghiệp; khôi phục vị trí của tàichính trong nền kinh tế, chuyển hoạt động tài chính sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, thoả mãn nhu cầu vốn cho nền kinh tế đi đôi với nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tăng tích luỹ từ nền kinh tế quốc dân, thực hiện công bằng xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu của chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đã đặt ra. Mục tiêu tổng quát được chi tiết hóa thành những mục tiêu cụ thể sau đây: ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 18
  19. Tài chính – Tiền tệ - Xây dựng chính sách tài chính quốc gia nhằm tăng cường tiềm lực tài chính đất nước, đặc biệt tăng cường tiềm lực tài chính Nhà nước và tài chính doanh nghiệp. Đảm bảo các nhu cầu vốn đi đôi với nâng cao hiệu quả sử đụng vốn trong nước cũng như vốn vay nước ngoài. Phần đấu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao từ 7- 10%/năm) với cơ cấu kinh tế hợp lý, thúc đẩy mạnh mẽ tiến bộ khoa họe kỹ thuật, tăng tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế quốc dân, cải thiện rõ rệt cán cân thanh toán quốc tế. - Kiểm soát lạm phát. Bằng việc thực hiện việc cải tổ cơ bản chính sách tài chính, đặc biệt chính sách thuế và cơ cấu thu chi ngân sách, loại bỏ nguy cơ tái lạm phát tiến tới kiểm soát được lạm phát, ổn định giá cả và sức mua của đồng tiền, tạo điều kiện, môi trường cho sản xuất phát triển, ổn định tình hình kinh tế xã hội, cải thiện từng bước đời sống nhân dân. - Tạo công ăn việc làm cho người dân, mở rộng ngành nghề, giải quyết thoả đáng nạn thất nghiệp, nâng cao đời sung vất chất, văn hoá tinh thần của nhân dân để vượt qua ngưỡng cửa đói nghèo, thực hiện công bằng xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng. - Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính thống nhất, phù hợp với cơ chế quản lý kinh tế và đáp ứng yêu cầu đổi mới các hoạt động kinh tế - xã hội. ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 19
  20. Tài chính – Tiền tệ Chương 2 Ngân sách nhà nước 2.1. Những vấn đề chung về NSNN 2.1.1. Khái niệm NSNN Một số quan niệm phổ biến về khái niệm NSNN: - NSNN là bản dự toán thu - chi tài chính của Nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm. - NSNN là quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, là kế hoạch tài chính cơ bản của Nhà nước. - NSNN là những quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động và sử dụng các nguồn tài chính khác nhau. Như vậy, một cách tổng quát: NSNN phản ánh các quan hệ kinh tê phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước trên cơ số luật định . 2.1.2. Đặc điểm của NSNN - Việc tạo lập và sử dụng quỹ NSNN luôn gắn với quyền lực của Nhà nước và việc thực hiện các chức năng của Nhà nước, được Nhà nước tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định. Đây cũng chính là điểm khác biệt giữa NSNN với các khoản tài chính khác - NSNN luôn gắn chặt với sở hữu Nhà nước, luôn chứa đựng lợi ích chung, lợi ích công cộng. Hoạt động thu – chi NSNN là sự thể hiện các mặt hoạt động kinh tế - xã hội của Nhà nước. Là việc xử lý các quan hệ lợi ích trong xã hội khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia, lợi ích của Nhà nước (lợi ích chung của quốc gia) thể hiện cả trong phân phối thu nhập của các doanh nghiệp, của dân cư, phân ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 20
  21. Tài chính – Tiền tệ phối GDP, GNP và cả trong phân bổ các nguồn lực tài chính cho các mục tiêu kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng của quốc gia. - NSNN cũng có những đặc điểm như các quỹ tiền tệ khác. Nét riêng biệt của NSNN với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước là nó được chia thành nhiều quỹ nhỏ, có tác dụng riêng và chỉ sau đó NSNN mới được chi dùng cho những mục đích nhất định đã định trước. - Hoạt động thu, chi NSNN được thực hiện theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu. Nghiên cứu những đặc điểm của NSNN không những cho phép tìm được phương thức và phương pháp quản lý NSNN hiệu quả hơn, mà còn giúp ta nhận thức và phát huy tốt hơn các chức năng, vai trò của Ngân sách nhà nước. 2.1.3. Vai trò của Ngân sách nhà nước 2.1.3.1. Đặc điểm của nền kinh tế thị trường Kinh tế thị trường là nền kinh tế hàng hoá - tiền tệ phát triển ở giai đoạn cao cùng các quy luật giá trị, quy luật cung cầu và quy luật lưu thông tiền tệ. Cơ chế thi trường bao gồm các nhân tố cơ bản là cung cầu và giả cả thị trường. Nhìn chung kinh tế thị trường nó có các ưu điểm cơ bản sau: - Cơ chế thị trường kích thích hoạt động của các chủ thể kinh tế và tạo đIều kiện thuận lợi cho sự hoạt động tự do của họ. Do đó làm cho nền kinh tế phát triển năng động, phát huy được các nguồn lực của xã hội vào phát triển kinh tế. - Cạnh tranh buộc nhà sản xuất phải hao phí lao động cá biệt đến mức thấp nhất có thể được bằng cách áp dụng kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất, nhờ đó mà thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lượng và số lượng hàng hoá. - Sự tác động của cơ chế thị trường đưa đến sự thích ứng tự phát giữa khối lượng và cơ câú sản xuất với khối lượng và cơ cấu nhu cầu xã hội, nhờ đó có thể thoả ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 21
  22. Tài chính – Tiền tệ mãn nhu cầu tiêu dùng của cá nhân và sản xuất về các loại sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ khác nhau. - Trong cơ chế thị trường tồn tại sự đa dạng của các thị trường. Bên cạnh thị trường hàng hoá đã xuất hiện các thị trường về vốn, lao động phục vụ cho sản xuất kết hợp với hệ thống giá cả linh hoạt vận động theo quan hệ cung cầu của hàng hoá, dịch vụ. Lịch sử phát triển của sản xuất xã hội dã chứng minh rằng cơ chế thị trường là cơ chế điều tiết nền kinh tế hàng hoá đạt hiệu quả kinh tế cao. Song, cơ chế thị trường không phải là hiện thân của sự hoàn hảo mà chứa đựng trong nó nhiều nhược điểm. - Sự xuất hiện độc quyền trong nền kinh tế, độc quyền làm cho giá cả không phản ánh được quan hệ cung cầu đích thực, hạn chế sản xuất hàng hoá, từ đó dẫn đến các hiện tượng xã hội như thất nghiệp làm cho cung cầu lao động mất cân đối. - Trong kinh tế thị trường, mục tiêu cao nhất là lợi nhuận. Chạy theo lợi nhuận dẫn đến việc sử dụng tài nguyên lãng phí, gây ô nhiễm môi trường. - Có những mục tiêu xã hội mà dù cơ chế thị trường hoạt động tốt cũng không thể đạt được. Sự tác động của cơ chế thị trường dẫn đến sự phân hoá giàu, nghèo, tác động xấu đến đạo đức và tình người. - Tự phát cũng là căn bệnh của kinh tế thị trường dẫn đến cơ cấu kinh tế mất cân đối. Bản thân nền kinh tế không thể khắc phục được các khuyết tật đó, cần có sự can thiệp của Nhà nước. Nhà nước đưa nền kinh tế tăng trưởng, tạo đầy đủ công ăn việc làm, ổn định giá cả, hạn chế lạm phát. Sự can thiệp của Nhà nước là sự can thiệp gián tiếp, thông qua các công cụ chủ yếu như: Pháp luật, Kế hoạch, Tổ chức, Tài chính, Tiền tệ Trong các công cụ đó, ngân sách Nhà nước được coi là công cụ quan trọng nhất của Nhà nước. 2.1.3.2. Vai trò của Ngân sách Nhà nước ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 22
  23. Tài chính – Tiền tệ - Ngân sách có vai trò huy động nguồn tài chính để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và thực hiện sự cân đối thu - chi tài chính của Nhà nước. Đây là vai trò lịch sử của NSNN, được xuất phát từ tính nội tại của phạm trù tài chính mà trong bất kỳ chế độ xã hội và cơ chế kinh tế nào, NSNN đều phải thực hiện và phát huy. - Ngân sách Nhà nước là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã hội của Nhà nước để khắc phục những khuyết tật của nền KTTT thể hiện trên các mặt: kinh tế, xã hội, thị trường .+ Về mặt kinh tế : Nhà nước định hướng hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế đi vào quỹ đạo mà chính phủ đã hoạch định để hình thành cơ cấu kinh tế tối ưu, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững. Thông qua các công cụ thuế và thuế suất, Nhà nước kích thích sản xuất phát triển, thu hút sự đầu tư của các doanh nghiệp. Ngoài ra nhà nước còn dùng ngân sách nhà nước đầu tư vào cơ sở hạ tầng tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động + Về mặt xã hôi: NSNN giữ vai trò điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội. Trợ giúp trực tiếp dành cho những người có thu nhập thấp hay có hoàn cảnh đặc biệt như chi về trợ cấp xã hội, trợ cấp gián tiếp dưới hình thức trợ giá cho các mặt hàng thiết yếu, các khoản chi phí để thực hiện chính sách dân số, chính sách việc làm, chống mù chữ, hỗ trợ đồng bào bão lụt. Bên cạnh các khoản chi ngân sách cho việc thực hiện các vấn đề xã hội, thuế cũng được sử dụng để thực hiện vai trò tái phân phối thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội. Việc kết hợp giữa thuế trực thu và thuế gián thu, một mặt vừa làm tăng các khoản thu cho ngân sách Nhà nước, mặt khác vữa nhằm điều tiết thu nhập của tầng lớp dân cư có thu nhập cao, điều tiết tiêu dùng, bảo đảm thu nhập hợp lý của các tầng lớp người lao động. ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 23
  24. Tài chính – Tiền tệ + Về mặt thi trường: Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, giá cả chủ yếu phụ thuộc vào cung cầu hàng hoá trên thị trường. Do đó, để ổn định giá cả, Chính phủ có thể tác động vào cung hoặc cầu hàng hoá trên thị trường. Nhà nước sử dụng ngân sách nhà nước như một công cụ để góp phần bình ổn giá cả và kiềm chế lạm phát. Nhà nước điều tiết giá cả những mặt hàng quan trọng, những mặt hàng mang tính chất chiến lược. Cơ chế điều tiết thông qua trợ giá, điều chỉnh thuế suất thuế xuất nhập khẩu, dự trữ quốc gia. Cùng với ngân hàng trung ương với chính sách tiền tệ thích hợp NSNN góp phần điều tiết thông qua chính sách thuế và chi tiêu của chính phủ để kiềm chế lạm phát. 2.2. Thu ngân sách Nhà nước 2.2.1.Khái niệm Thu ngân sách Nhà nước là sự phân chia nguồn tài chính quốc gia giữa Nhà nước với các chủ thể trong xã hội dựa trên quyền lực của Nhà nước nhằm giải quyết hài hoà các mặt lợi ích kinh tế. Nguồn tài chính quốc gia là kết quả độ lao động sản xuất trong nước tạo ra được thể hiện được hình thức tiền tệ (GDP). 2.2.2. Đặc điểm: - Thu ngân sách Nhà nước phản ánh các quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị nảy sinh trong quá trình Nhà nước dùng quyền lực chính trị tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia (GDP) hình thành quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước. Mọi khoản thu của nhà nước đều được thể chế hóa bởi các chính sách, chế độ và pháp luật của nhà nước; - Thu ngân sách Nhà nước phụ thuộc vào thực trạng kinh tế và sự vận động của các phạm trù giá trị khác như: giá cả, thu nhập, lãi suất. Chỉ tiêu quan trọng biểu hiện thực trạng của nền kinh tế là chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc nội (GDP), quyết định mức động viên của thu Ngân sách Nhà nước. ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 24
  25. Tài chính – Tiền tệ 2.2.3. Nội dung kinh tế của thu ngân sách Nhà nước Phân loại thu NSNN Căn cứ vào phạm vi phát sinh: + Thu trong nước (thu từ SXKD, cung cấp dịch vụ, bán và cho thuê tài sản quốc gia, ) + Thu ngoài nước (thu từ xuất khẩu lao động, viện trợ, vay nước ngoài) Căn cứ vào tính chất phát sinh và nội dung kinh tế: + Thu thường xuyên (thu từ thuế, phí, lệ phí) + Thu không thường xuyên (thu hoạt động kinh tế,sự nghiệp, vay, vtrợ, ) Căn cứ vào yêu cầu động viên vốn vào NSNN + Thu trong cân đối NS (thu từ thuế, phí, lệ phí, từ các hoạt động ktế ) + Thu bù đắp thiếu hụt NS (thu từ vay) Dựa vào nội dung kinh tế và tính chất các khoản thu Ngân sách Nhà nước gồm các khoản thu chủ yếu sau: 2.2.3.1.Thu thường xuyên Thu thường xuyên là các khoản thu phát sinh thường xuyên cùng với nhịp độ hoạt động của nền kinh tế, có tính chất bắt buộc như thuế, phí, lệ phí với nhiều hình thức cụ thể do luật định. Thuế - Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc được thể hiện bằng luật do pháp nhân và thể nhân đóng góp cho Nhà nước (thể nhân là cá nhân có đăng ký kinh doanh) . Trong nền kinh tế thị trường, thuế được coi là công cụ quan trọng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế, là nguồn thu quan trọng chủ yếu cua ngân sách Nhà nước, có ảnh hưởng to lớn đến công cuộc phát triển kinh tế, thể hiện cụ thể như sau: + Thuế góp phần thúc đẩy sự tích lũy tư bản để ảnh hưởng mạnh mẽ tới sự phát triển kinh tế. ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 25
  26. Tài chính – Tiền tệ + Thuế là công cụ phân phối lại lợi tức, làm gia tăng tiết kiệm trong khu vực tư nhân và đảm bảo sự công bằng của xã hội. + Thuế là một trong những biện pháp chế ngự lạm phát. Dựa vào tính chất chuyển giao của thuế, chia thuế ra 2 loại: Loại 1: Thuế trực thu đánh trực tiếp vào người nộp thuế, tức là người có thu nhập chịu thuế như: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân. Loai 2: Thuế gián thu là loại thuế đánh vào người tiêu dùng thông qua giá cả hàng hoá và dịch vụ (người nộp thuế và người chịu thuế không đồng nhất), ( thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt). Tuy nhiên, trong thực tế có nhiều loại thuế mang tính chất lưỡng tính như: thuế nông nghiệp, thuế xuất nhập khẩu. Phí và lệ phí: là một khoản thu nhằm bù đắp một phần chi phí của các cơ quan sự nghiệp đã bỏ ra để cung cấp dịch vụ công. Thực chất phí và lệ phí là khoản tiền mà dân chúng trả cho Nhà nước khi họ hưởng thụ những dịch vụ do Nhà nước cung cấp. So với thuế, tính pháp lý của lệ phí thấp hơn. Phí gắn liền với với vấn đề thu hồi một phần hay toàn bộ chi phí đầu tư đối với hàng hóa dịch vụ công cộng hữu hình. Lệ phí gắn liền với việc thụ hưởng những lợi ích do việc cung cấp các dịch vụ hành chính, pháp lý cho các thể nhân và pháp nhân. 2.2.3.2.Thu không thường xuyên Thu không thường xuyên là những khoản thu chỉ phát sinh vào thời điểm, vào những khoảng thời gian nhất định, không phát sinh liên tục như thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước, thu từ hoạt động sự nghiệp, thu tiền bán hoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu Nhà nước Thu lơi tức cổ Phần của Nhà nước. Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước thực hiện hình thức đầu tư vốn vào hoạt động sản xuất kinh doanh bằng hình thức góp vốn hoặc mua cổ phần. Khoản tiền đó sẽ ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 26
  27. Tài chính – Tiền tệ sinh lời dưới hình thức lợi tức cổ phần của Nhà nước. Khoản thu này sẽ chiếm tỷ trọng lớn trong ngân sách Nhà nước khi Nhà nước thực hiện cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước. Thu tiền bán hàng hoặc thu tài sản thuộc quyền sở hữu của nhà nước Là khoản thu mang tính chất thu hồi vốn và có một phần tính chất phân phối lại. Vừa có tác dụng nâng cao nguồn thu cho ngân sách NN, vừa có tác dụng tăng hiệu quả sử dụng tài sản quốc gia Khoản thu này chia làm 2 loại: + Loại 1: thu về tiền cho thuê hoặc bán tài nguyên thiên nhiên. + Loại 2: Tiền bán TS thuộc sở hữu nhà nước như bán hoặc cổ phần hóa DNNN cho tư nhân Tiền thu về hợp tác lao động với nước ngoài Là khoản tiền thu hồi của quốc gia do đã bỏ ra chi phí ban đầu để nuôi dưỡng. rèn luyện tầng lớp lao động, đồng thời là khoản tiền mà người lao động trích một phần tiền công của mình đóng góp cho đất nước Ngoài các khoản trên còn có các khoản thu về vay, viện trợ để cân đối NSNN và các khoản thu khác 2.2.4. Những yếu tố ảnh hưởng đến thu NSNN - Thu nhập GDP bình quân đầu người Chỉ tiêu thu nhập GDP bình quân đầu người phản ánh tốc độ tăng trưởng và phát triển của một quốc gia, phản ánh khả năng tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư của một nước, là nhân tố quyết. định khách quan đến mức động viên của Ngân sách Nhà nước. Khi GDP/người mà cao thì thu ngân sách nhà nước sẽ cao. Ngược lại, khi GDP/người thấp thì thu ngân sách nhà nước sẽ thấp - Khả năng xuất khẩu dâu mỏ và khoáng sản Nhân tố này có ảnh hưởng rất lớn đến số thu ngân sách. Nếu tỷ trọng xuât khẩu dầu mỏ và khoáng sản chiếm trên 20% kim ngạch xuất khẩu thì tỷ suất thu ngân sách ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 27
  28. Tài chính – Tiền tệ Nhà nước sẽ cao và có khả năng tăng nhanh. Ở nước ta, việc xuất khẩu dầu mỏ và khoáng sản chiếm tỷ trọng rất lớn trong kim ngạch xuất khẩu. Đó là nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng lớn đến việc nâng cao tỷ suất thu của Ngân sách Nhà nước. - Tỷ suất doanh lợi trong nền kinh tế (= LN*100%/ VSX) Tỷ suất doanh lợi phản ánh hiệu quả của nền kinh tế, do đó Tỷ suất doanh lợi trong nền kinh tế càng lớn thì thu ngân sách nhà nước càng lớn. Ngoài ra, nếu dựa vào tỷ suất doanh lợi trong nền kinh tế để xác định tỷ suất thu ngân sách nhà nước sẽ tránh được việc động viên vào ngân sách nhà nước gây khó khăn về tài chính cho hoạt động kinh tế. - Mức độ trang trải các khoản CF của nhà nước (tiết kiệm, bộ máy gọn nhẹ, hoạt động hiệu quả - Tổ chức bộ máy thu nộp: gọn nhẹ, có hiệu quả cao, chống được thất thu do trốn,lậu thuế sẽ là nhân tố tích cực làm tăng thu ngân sách nhà nước. Ngược lại, tổ chức bộ máy thu nộp cồng kềnh, cán bộ quản lý thu nộp thiếu trách nhiệm, cố ý làm sai sẽ là những nguyên nhân gây giảm thu của ngân sách nhà nước. 2.2.5. Nguyên tắc tổ chức hệ thống thu NSNN - Nguyên tắc ổn định lâu dài - Nguyên tắc đảm bảo công bằng - Nguyên tắc rõ ràng, chắc chắn -Nguyên tắc giản đơn -Nguyên tắc phù hợp với thông lệ quốc tế 2.3. Chi NSNN 2.3.1.Khái niệm chi NSNN Chi NSNN là việc phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng của Nhà nước theo những nguyên tắc nhất định. Chi NSNN là quá trình phân phối lại các nguồn tài chính đã được tập trung vào NSNN và đưa chúng đến mục đích sử dụng. Vì thế, chi NSNN là những việc cụ thể, ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 28
  29. Tài chính – Tiền tệ không chỉ dừng lại trên các định hướng mà phải phân bổ cho từng mục tiêu, từng hoạt động và từng công việc thuộc chức năng của Nhà nước. Chi NSNN bao gồm 2 quá trình: Quá trình phân phối là quá trình cấp phát kinh phí từ NSNN để hình thành các loại quỹ trước khi đưa vào sử dụng. Quá trình sử dụng là quá trình trực tiếp chi dùng khoản tiền cấp phát từ NSNN mà không trải qua việc hình thành các loại quỹ trước khi đưa vào sử dụng. Ví dụ: việc chi dùng quỹ NSNN cho đầu tư xây dựng cơ bản, hoặc các chương trình kinh tế có mục tiêu . . . 2.3.2. Đặc điểm chi NSNN Trong mỗi chế độ xã hội, mỗi giai đoạn lịch sử, chi NSNN có nội dung, cơ cấu khác nhau, song chúng có những đặc điểm chung dưới đây: - Chi NSNN gắn với bộ máy nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội mà Nhà nước đảm đương trong từng thời kỳ. Chi NSNN phải đảm bảo các hoạt động của nhà nước trên tất cả các lĩnh vực. Nhưng nguồn NSNN có được trong từng năm, từng thời kỳ lại có hạn làm hạn chế phạm vi hoạt động của Nhà nước, buộc Nhà nước phải lựa chọn để xác định rõ phạm vi chi NSNN. Nhà nước không thể bao cấp tràn lan qua NSNN, mà phải tập trung nguồn tài chính vào phạm vi đã hoạch định để giải quyết các vấn đề lớn của đất nước. - Chi NSNN gắn với quyền lực của Nhà nước. Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất quyết định quy mô, nội dung, cơ cấu chi NSNN và phân bổ nguồn vốn ngân sách cho các mục tiêu quan trọng nhất, bởi vì Quốc hội là cơ quan quyết định các nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội của quốc gia. Chính phủ là cơ quan hành pháp, có nhiệm vụ quản lý, điều hành các khoản chi NSNN. - Hiệu quả chi NSNN khác với hiệu quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp, nó được xem xét trên tầm vĩ mô và là hiệu quả kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng dựa ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 29
  30. Tài chính – Tiền tệ vào việc hoàn thành các mục tiêu kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng mà các khoản chi Ngân sách đảm nhận. Tuy nhiên, điều đó không bác bỏ trong đầu tư phải chú ý tới hiệu quả kinh tế, nhất là các khoản vay nợ để đầu tư. - Chi NSNN là những khoản chi không hoàn trả trực tiếp. Các khoản cấp phát từ NSNN cho các ngành, các cấp. cho các hoạt động văn hoá, xã hội, giúp đỡ người nghèo không phải trả giá hoặc hoàn lại cho Nhà nước. - Chi NSNN là một bộ phận cấu thành luồng vận động tiền tệ và nó gắn liền với sự vận động của các phạm trù giá trị khác như giá cả, tiền lương, tín dụng, thuế, tỷ giá hối đoái Chi NSNN có quy mô lớn, phức tạp, có tác động mạnh mẽ đến môi trường tài chính vĩ mô, đến tổng cung, tổng cầu về vốn tiền tệ. Nếu thu, chi NSNN cân đối được, về cơ bản tổng cung tổng cầu về hàng hoá, dịch vụ của xã hội sẽ ổn định. 2.3.3. Nội dung và phân loại chi NSNN 2.3.3.1. Nội dung chi: Do tính đa dạng và phức tạp nên chi NSNN có rất nhiều khoản mục khác nhau, bao gồm: - Chi đầu tư phát triển: bao gồm các khoản chi cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng; chi cho các chương trình, mục tiêu quốc gia, dự án nhà nước; chi hỗ trợ các doanh nghiệp nhà nước, góp vốn liên doanh, liên kết; chi bổ sung dự trữ nhà nước. - Chi sự nghiệp kinh tế; - Chi cho y tế; - Chi cho giáo dục đào tạo và nghiên cứu khoa học; - Chi cho văn hoá, thể dục thể thao; - Chi về xã hội; - Chi quản lý nhà nước, Đảng, đoàn thể; - Chi cho an ninh, quốc phòng; -Chi khác: như chi viện trợ, cho vay, trả nợ gốc và lãi. ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 30
  31. Tài chính – Tiền tệ 2.3.3.2. Phân loại chi NSNN - Căn cứ vào mục đích chi tiêu, nội dung chi NSNN được chia thành hai nhóm: + Chi cho đầu tư phát triển SX của NSNN là những khoản chi làm tăng cơ sở vật chất và tiềm lực cho nền kinh tế, góp phần tăng trưởng kinh tế, là các khoản chi đầu tư phát triển và các khoản chi tích lũy khác. + Chi tiêu dùng của NSNN là các khoản chi không tạo ra sản phẩm vật chất để tiêu dùng trong tương lai, mà dùng cho tiêu dùng hiện tạiđối với từng cá thể, từng bộ phận, bao gồm: chi cho các hoạt động sự nghiệp, chi quản lý hành chính nhà nước, chi quốc phòng, an ninh và chi tiêu dùng khác. - Căn cứ theo yếu tố thời hạn và phương thức quản lý NSNN. nội dung chi NSNN được chia thành bốn nhóm như sau: + Nhóm chi thường xuyên, bao gồm các khoản chi nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của nhà nước. Về cơ bản, nó mang tính chất chi tiêu dùng. Chi thường xuyên không được chiếm hết số thu từ thuế và phí của NSNN, vì NSNN hàng năm còn phải dành một phần thu từ thuế và phí cho đầu tư phát triển. + Nhóm chi đầu tư phát triển bao gồm các khoản chi làm tăng cơ sở vật chất của đất nước và góp phần làm tăng trưởng kinh tế. Nó là các khoản chi mang tính chất chi tích lũy như chi đầu tư CSHT, chi hỗ trợ doanh nghiệp nhà nước, chi các dự án chương trình quốc gia. + Nhóm chi trả nợ và viện trợ, bao gồm các khoản chi để Nhà nước thực hiện nghĩa vụ trả nợ các khoản đã vay trong nước và vay nước ngoài khi đến hạn (bao gồm cả nợ gốc và lãi) và các khoản chi làm nghĩa vụ quốc tế. + Chi dự trữ, là những khoản chi NSNN để bổ sung quỹ dự trữ nhà nước, quỹ dự trữ tài chính. - Căn cứ vào lĩnh vực chi: Chi NSNN chia thành: chi cho ytế, giáo dục, phúc lợi, quản lý nhà nước, đầu tư kinh tế. ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 31
  32. Tài chính – Tiền tệ - Căn cứ vào chức năng của Nhà nước: Chi NSNN chia thành: chi nghiệp vụ, chi phát triển 2.3.4. Các nhân tố hưởng đến chi NSNN Nội dung, cơ cấu các khoản chi NSNN là sự phản ánh những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội của nhà nước trong từng giai đoạn lịch sử và luôn biến động theo tình hình kinh tế xã hội, chính trị. Vì thế, cần đề cập tới các nhân tố ảnh hưởng đến chi NSNN. - Chế độ xã hội là nhân tố cơ bản ảnh hưởng quyết định đến nội dung cơ cấu chi NSNN, nói lên bản chất xã hội - Sự phát triển của lực lượng sản xuất, nhân tố vừa tạo ra khả năng và điều kiện cho việc hình thành nội dung, cơ cấu chi một cách hợp lý vừa đặt ra yêu cầu thay đồi nội dung, cơ cấu chi trong từng thời kỳ nhất định. - Khả năng tích lũy của nền kinh tế, nhân tố này càng lớn thì khả năng chi đầu tư phát triển kinh tế càng lớn. Tuy nhiên, việc chi NSNN cho đầu tư phát triển còn tùy thuộc ở khả năng tập trung nguồn tích lũy vào NSNN và chính sách chi của NSNN trong từng giai đoạn lịch sử. - Mô hình tổ chức bộ máy của Nhà nước, và những nhiệm vụ kinh tê, xã hội mà Nhà nước đảm nhận trong từng thời kỳ. Ngoài những nhân tố kể trên, nội dung, cơ cấu chi NSNN của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn còn chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác như biến động kinh tế, chính trị, xã hội, giá cả, lãi suất, tỷ giá hối đoái Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến nội dung, cơ cấu chi NSNN có ý nghĩa quan trọng trong việc bố trí nội dung và cơ cấu chi tiêu của NSNN một cách khách quan, phù hợp với yêu cầu của tình hình kinh tế, chính trị trong từng giai đoạn lịch sử. 2.3.5. Những nguyên tắc tổ chức chi NSNN - Nguyên tắc thử nhất: gắn chặt khoản thu để bố trí các khoản chi. ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 32
  33. Tài chính – Tiền tệ Chi NSNN phải dựa trên cơ sở có nguồn thu thực tế từ nền kinh tế. Nó đòi hỏi mức độ chi và cơ cấu các khoản chi phải dựa vào khả năng tăng trưởng GDP của đất nước. - Nguyên tắc thứ hai: đảm bảo yêu cầu tiết kiệm và hiệu quả trong việc bố trí các khoản chi tiêu của NSNN. Các khoản chi NSNN nói chung có đặc điểm là bao cấp với khối lượng chi thường lớn. Do vậy, cần phải quán triệt nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả trong các -khoản chi NSNN. - Nguyên tắc thứ ba: tập trung có trọng điểm. Nguyên tắc này đòi hỏi việc phân bổ nguồn vốn NSNN phải căn cứ vào chương trình trọng điểm của Nhà nước, vì việc thực hiện thành công các chương trình này có tác động dây chuyền, thúc đẩy các ngành, các lĩnh vực phát triển. Thực hiện đúng nguyên tắc này mới đảm bảo tính mục đích và khả năng tiết kiệm các khoản chi NSNN. - Nguyên tắc thứ tư phân biệt rõ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của các cấp chính quyền theo luật định để bố trí các khoản chi cho thích hợp. Áp dụng nguyên tắc này tránh được việc bố trí các khoản chi chồng chéo, khó kiểm tra, giám sát' nâng cao trách nhiệm và tính chủ động của các cấp. - Nguyên tắc thứ năm: tổ chức chi NSNN trong sự phối hợp chặt chẽ với khối lượng tiền tệ, lãi suất, tỷ giá hối đoái để tạo nên công cụ tổng hợp cùng tác động đến các vấn đề của kinh tế vĩ mô. - Nguyên tắc 6: Tuân thủ nguyên tắc nhà nước và nhân dân cùng làm trong việc bố trí các khoản chi của NSNN nhất là các khoản chi mang tính chất phúc lợi xã hội. 2.3.6. Bội chi ngân sách nhà nước và các giải pháp xử lý 2.3.6.1.Khái niệm: Thăng bằng giữa thu và chi NSNN, cân đối NSNN, là nguyên tắc quản lý NSNN xuất phát từ yêu cầu khách quan của ổn định tiền tệ, ổn định sản xuất, đời sống và nó còn là điều kiện để tạo dựng môi trường tài chính vĩ mô ổn định. Vì vậy thăng bằng thu, chi NSNN phải được coi trọng và giữ vững. ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 33
  34. Tài chính – Tiền tệ Tuy nhiên, số thu NSNN có hạn, trong khi đó, nhu cầu chi tiêu của Nhà nước lại không ngừng tăng lên, dẫn đến sự mất cân bằng giữa thu và chi, bội chi NSNN xảy ra. Bội chi NSNN là tình trạng chi NSNN vượt quá thu NSNN (thu từ thuế, phí và lệ phí) trong một năm. Nguyên nhân: bội chi ngân sách có thể xảy ra do: Các nguyên nhân khách quan: . Do nền kinh tế suy thoái mang tính chu kỳ . Thiên tai, tình hình bất ổn chính trị Các nguyên nhân chủ quan: . Do quản lý và điều hành NS bất hợp lý . Do nhà nước chủ động sử dụng bội chi NSNN như một cụ sắc bén của chính sách tài khoá . Do cách đo lường bội chi Ngày nay, bội chi NSNN trở thành phổ biến đối với hầu hết các quốc gia, tuy ở những mức độ khác nhau. 2.3.6.2. Các giải pháp xử lý: Bội chi NSNN trên quy mô lớn, tốc độ cao được coi là một nguyên nhân trực tiếp và quyết định gây ra lạm phát, tác hại đến sự phát triển kinh tế, đến đời sống của dân cư. Trong điều kiện ngân sách nhà nước còn bội chi, Nhà nước phải tìm giải pháp khống chế bội chi. tìm nguồn trang trải bù đắp bội chi. Các giải pháp từng được sử dụng là: - Tăng thu, giảm chi NSNN - Vay nợ trong và ngoài nước để bù đắp bội chi - Phát hành tiền giấy để bù chi. Xử lý bội chi NSNN bằng giải pháp nào cũng phải có sự trả giá, vấn đề là phải lựa chọn sao cho sự trả giá ít nhất và có lợi nhất cho đất nước. 2.4. Tổ chức hệ thống NSNN ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 34
  35. Tài chính – Tiền tệ 2.4.1. Khái niệm tổ chức hệ thống NSNN Hệ thống NSNN là tổng thể các cấp Ngân sách gắn bó hữu cơ với nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thu chi của mỗi cấp Ngân sách. Bất cứ nước nào, muốn xây dựng hệ thống NSNN phải căn cứ Vào hiến pháp của nước đó. Trên cơ sở các nguyên tắc của hiến pháp. luật NSNN cụ thể hoá hệ thống NSNN. 2.4.2. Cấp NSNN 2.4.2.1. Điều kiện hình thành cấp NSNN: - Cấp NS được hình thành trên cở cấp chính quyền - Nhiệm vụ của cấp chính quyền được giao phó phải tương đối toàn diện, nghĩa là cấp chính quyền đó không chỉ có nhiệm vụ phát triển hành chính xã hội mà còn có nhiệm vụ tổ chức quản lý và phát triển kinh tế trên vùng lãnh thổ mà cấp chính quyền đó cai quản - Khả năng nguồn thu của vùng lãnh thổ mà cấp chính quyền đó cai quản có thể đáp ứng được phần lớn nhu cầu chi tiêu của chính quyền. 2.4.2.2.Nguyên tắc tổ chức hệ thống NSNN Tổ chức hệ thống NSNN VN ta dựa trên hai nguyên tắc sau: - Nguyên tắc thống nhất và tập trung, dân chủ Nước ta là một quốc gia thống nhất, quyền lực nhà nước là thống nhất, do đó chỉ có một NSNN thống nhất do Quốc hội phê chuẩn, dự toán và quyết toán ngân sách. Chính phu thống nhất quản lý NSNN. - Nguyên tắt đảm bảo tính phù hợp giữa cấp ngân sách và cấp chính quyền nhà nước 2.4.2.3. Các cấp ngân sách trong hệ thống NSNN Tại nước ta, tổ chức hệ thống ngân sách nhà nước gắn bó chặt chẽ với việc tổ chức bộ máy Nhà nước và vai trò, vị trí của bộ máy đó trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước theo Hiến pháp. Theo Luật NSNN, hệ thống NSNN gồm : ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 35
  36. Tài chính – Tiền tệ Ngân sách trung ương - phản ánh nhiệm vụ thu, chi theo ngành và giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống ngân sách nhà nước. Nó bắt nguồn từ vị trí, vai trò của chính quyền trung ương được Hiến pháp quy định đối với việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước. Ngân sách trung ương cấp phát kinh phí cho yêu cầu thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trung ương (sự nghiệp văn hoá, sự nghiệp an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội, đầu tư phát triển ). Nó còn là trung tâm điều hoà hoạt động ngân sách của địa phương. Ngân sách địa phương là các cấp ngân sách của các cấp chính quyền bên dưới phù hợp với địa giới hành chính các cấp. Ngân sách địa phưong bao gồm: o Ngân sách cấp tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là ngân sách cấp tỉnh). o Ngân sách cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là ngân sách cấp huyện). o Ngân sách cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là ngân sách cấp xã). Trong hệ thống ngân sách Nhà nước ta, ngân sách trung ương chi phối phần lớn các khoản thu và chi quan trọng, còn ngân sách địa phương chỉ được giao nhiệm vụ đảm nhận các khoản thu và chi có tính chất địa phương. 2.4.3. Phân cấp quản lý NSNN 2.4.3.1. Khái niệm phân cấp quản lý NSNN Phân cấp quản lý NSNN là việc phân định phạm vi trách nhiệm, quyền hạn của các cấp chính quyền nhà nước trong quá trình tổ chức tạo lập và sử dụng NSNN phục vụ cho việc thực thi các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. 2.4.3.2. Yêu cầu phân cấp quản lý NSNN Phân cấp quản lý NSNN được thực hiện theo các yêu cầu: - Đảm bảo tính thống nhất của NSNN: phân cấp quản lý để phát huy quyền dân chủ, tính chủ động sáng tạo của các cấp chính quyền trong khai thác, bồi dưỡng, huy động nguồn thu: tính toán chặt chẽ. sử dụng tiết kiệm và hiệu quả các khoản chi ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 36
  37. Tài chính – Tiền tệ NSNN, không phải là sự cắt khúc NSN/N. Các cấp chính quyền đều phải chấp hành thống nhất các luật pháp tài chính- ngân sách, các quyết định của Chính phủ, Bộ Tài chính. - Phân cấp quản lý NSNN phải phù hợp với phân cấp các lĩnh vực khác của Nhà nước: tạo ra một sự đồng bộ trong thực hiện và quản lý các ngành, các lĩnh vực của Nhà nước. - Nội dung của phân cấp quản lý NSNN phải phù hợp với hiến pháp và luật pháp quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các cấp chính quyền. đảm bảo mỗi cấp ngân sách có các nguồn thu các khoản chi, quyền và trách nhiệm về ngân sách tương xứng nhau. 2.4.3.3. Nội dung phân cấp quản lý NSNN Trong quá trình quản lý, sử dụng NSNN giữa các cấp chính quyền thường nảy sinh các mối quan hệ quyền lực, quan hệ vật chất. Giải quyết các mối quan hệ đó được coi là nội dung của phân cấp quản lý ngân sách. Cụ thể, phân cấp quản lý ngân sách bao gồm những nội dung chủ yếu sau: - Giải quyết môi quan hệ quyền lực giữa các cấp chính quyền trong việc ban hành các chính sách, chế độ thu chi, chê độ quản lý NSNN Đây là một trong những nội dung tất yếu của phân cấp quản lý NSNN. Qua phân cấp phải xác định rõ quyền hạn ban hành các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức, phạm vi, mức độ, quyền hạn của mỗi cấp trong việc ban hành chính sách, chế độ NSNN. Có như vậy, việc điều hành và quản lý NSNN mới đảm bảo tính ổn định, tính pháp lý, tránh tư tưởng cục bộ địa phương. - Giải quyết mối quan hệ vật chất trong quá trình phân giao nhiệm vụ chi, nguồn thu và cân đôi NSNN. Trong phân cấp quản lý ngân sách, việc giải quyết mối quan hệ vật chất giữa các cấp chính quyền thường phức tạp nhất, bởi lẽ mối quan hệ này là mối quan hệ lợi ích. Để giải quyết nó, cần phải xác định rõ nhiệm vụ kinh tế, chính trị của mỗi cấp chính ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 37
  38. Tài chính – Tiền tệ quyền, khả năng tạo ra nguồn thu trên từng địa bàn mà chính quyền đó quản lý, đồng thời nghiên cứu, sử dụng các biện pháp điều hoà thích hợp. Trong chế độ phân cấp quản lý NSNN, quy định chi tiết các nguồn thu và các khoản chi cho từng cấp ngân sách. - Giải quyết môi quan hệ trong quá trình thực hiện chu trình ngân sách . Chu trình ngân sách được hiểu là quá trình lập, chấp hành và quyết toán ngân sách. Phân cấp quản lý ngân sách là phải xác định trách nhiệm và quyền hạn của các cấp chính quyền trong việc lập, chấp hành và quyết toán ngân sách, mức vay nợ trong dân, các khoản phụ thu bổ sung cho ngân sách cấp dưới, thời hạn lập, xét duyệt, báo cáo NSNN ra Hội đồng nhân dân và gối lên cấp trên sao cho vừa nâng cao trách nhiệm của chính quyền trung ương, vừa phát huy tính năng động, sáng tạo của chính quyền cơ sở. - Giải quyết tốt mối quan hệ trong việc quản lý và sử dụng NSNN, đó chính là nội dung trong phân cấp quản lý NSNN. 2.4.3.4. Nguyên tắc phân cấp quản lý NSNN Nhằm giải quyết các mối quan hệ nói trên. trong phân cấp quản lý NSNN cần phải thực hiện một số nguyên tắc nhất định. - Phân cấp NSNN phải được tiến hành đồng bộ với phân cấp quản lý kinh tế và tổ chức bộ máy hành chính. - Đảm bảo thể hiện vai trò chủ đạo mà NSTW và vị trí độc lập của NSĐP trong hệ thống NSNN thống nhất. - Đảm bảo nguyên tắc công bằng trong phân cấp quản lý Để giải quyết đúng đắn mối quan hệ vật chất giữa các cấp chính quyền. việc giao nhiệm vụ thu, chi cho địa phương phải căn cứ vào yêu cầu cân đối chung của cả nước, nhưng phải cố gắng hạn chế thấp nhất sự chênh lệch về kinh tế. văn hoá, xã hội do hậu quả của phân cấp nảy sinh giữa các vùng lãnh thổ. 2.5. Chu trình quản lý NSNN ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 38
  39. Tài chính – Tiền tệ 2.5.1. Khái quát về chu trình quản lý NSNN Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước. Năm ngân sách hay còn gọi là năm tài chính, là giai đoạn mà trong đó dự toán thu – chi tài chính của Nhà nước đã được phê chuẩn có hiệu lực thi hành. Chu trình quản lý NSNN là qui trình quản lý được tiến hành từ khi hình thành ngân sách đến khi kết thúc để chuyển sang ngân sách mới Dự toán ngân sách gắn với năm ngân sách, khi năm ngân sách này kết thúc thì lại bắt đầu năm ngân sách mới nên hoạt động ngân sách có tính chu kỳ, hình thành nên chu trình ngân sách liên tục. Tóm lại, một chu trình NSNN có ba khâu nối tiếp nhau là: lập ngân sách, chấp hành ngân sách và quyết toán ngân sách. Trong một năm ngân sách, đồng thời có cả ba khâu đó: chấp hành ngân sách của chu trình hiện tại, quyết toán ngân sách của chu trình trước và lập ngân sách của chu trình sau. 2.5.2. Nội dung cơ bản của chu trình quản lý NSNN 2.5.2.1. Lập ngân sách nhà nước Hình thành ngân sách là quá trình bao gồm các công việc: lập ngân sách, phê chuẩn ngân sách và thông báo ngân sách. Trong chu trình ngân sách, lập ngân sách là công việc khởi đầu có ý nghĩa quyết định đến toàn bộ các khâu của chu trình quản lý ngân sách. Lập Ngân sách thực chất là dự toán các khoản thu – chi đúng đắn, có cơ sở khoa học, cơ sở thực tiễn sẽ có tác dụng quan trọng đối với kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội nói chung và thực hiện ngân sách nói riêng. 2.5.2.2. Chấp hành ngân sách nhà nước Sau khi ngân sách được phê chuẩn và năm ngân sách bắt đầu, việc thực hiên ngân sách được triển khai. Nội dung của quá trình này là tổ chức thu NSNN và bố trí ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 39
  40. Tài chính – Tiền tệ cấp kinh phí của NSNN cho các nhu cầu đã được phê chuẩn. Việc chấp hành NSNN thuộc về tất cả pháp nhân và thể nhân dưới dự điều hành của Chính phủ, trong đó Bộ Tài Chính có vị trí quan trọng. 2.5.2.3. Quyết toán ngân sách nhà nước Đây là khâu cuối cùng trong chu trình quản lý ngân sách nhà nước. Thông qua quyết toán ngân sách sẽ cho thấy được kết quả toàn diện về hoạt động kinh tế - xã hội của Nhà nước. hoạt động ngân sách nhà nước với tư cách là công cụ vĩ mô của Nhà nước trong thời gian qua, từ đó rút ra kinh nghiệm cần thiết trong điều hành ngân sách nhà nước. Do đó, yêu cầu của quyết toán ngân sách nhà nước phải đảm bảo chính xác, trung thực và kịp thời. ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 40
  41. Tài chính – Tiền tệ Chương 3 Tiền tệ và lưu thông tiền tệ 3.1. Khái niệm chung về tiền tệ 3.1.1. Nguồn gốc và khái niệm Tiền tệ là một phạm trù kinh tế khách quan, gắn liền với sự ra đời và phát triển của nền kinh tế hàng hóa. Về bản chất, tiền tệ là vật ngang giá chung, làm phương tiện để trao đổi hàng hóa, dịch vụ và thanh toán các khoản nợ. Nói cách khác, tiền tệ là phương tiện trao đổi được pháp luật thừa nhận và người sở hữu nó sử dụng phục vụ cho những nhu cầu trong đời sống kinh tế xã hội. Từ khi ra đời, hình thái tư nhiên của tiền tệ không ngừng thay đổi, tạo điều kiện ngày càng thuận lợi cho lưu thông hàng hóa và phát triển kinh tế xã hội. - Tiền tệ bằng hàng hóa: Có rất nhiều hàng hóa từng được sử dụng làm phương tiện trao đổi nhưng bị giới hạn về mặt địa lý, chỉ mang tính địa phương. Cuối thời kỳ này, tiền tệ bằng hàng hóa được hạn chế trong phạm vi kim loại mà chủ yếu là vàng. Vàng có nhiều ưu việt hơn các hàng hóa khác như: + Tính đồng nhất của vàng cao nên thuận lợi cho việc đo lường, biểu hiện giá trị của hàng hóa trong trao đổi. + Dễ phân chia mà không ảnh hưởng đến chất lượng. + Dễ mang theo, một thể tích nhỏ, trọng lượng nhỏ của vàng có thể dại diện cho giá trị của một khối lượng hàng hóa lớn Tuy nhiên sản xuất càng phát triển, lượng hàng hóa dịch vụ trao đổi càng nhiều nhưng lượng vàng khai thác được lại hạn chế. Do đó, giá trị của vàng lớn đến mức khó có thể chia nhỏ để tiến hành hoạt động mua bán bình thường. ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 41
  42. Tài chính – Tiền tệ - Tiền giấy: Sau một thời gian dài, thời đại tiền bằng hàng hóa nhường chỗ cho thời đại tiền giấy. Tiền giấy do ngân hàng trung ương phát hành, là đồng tiền hợp pháp được lưu hành với giá trị bắt buộc mang tính quy ước. Ngày nay, việc sử dụng tiền giấy đã trở nên phổ biến, do có nhiều ưu điểm nổi trội như: + Dễ mang theo làm phương tiện trao đổi + Thuận tiện khi thực hiện chức năng dự trữ + Bằng cách thay đổi các con số trên mặt đồng tiền, các lượng giá trị lớn hay nhỏ được biểu hiện . - Tiền ghi sổ: Thực chất là những khoản tiền gửi không kỳ hạn ở ngân hàng. Việc sử dụng đồng tiền ghi sổ được thực hiện bằng các bút toán ghi Nợ, ghi Có trên tài khoản. Tiền ghi sổ góp phần giảm bớt chi phí lưu thông tiền mặt (in, đếm, đóng gói, vận chuyển ) cho nền kinh tế, thực hiện nhanh chóng và thuận lợi hơn trong việc lưu thông hàng hóa. 3.1.2. Chức năng của tiền tệ - Chức năng thước đo giá trị: Tiền tệ thực hiện chức năng này khi nó biểu hiện giá trị của hàng hóa về mặt chất và đo lường giá trị hàng hóa về mặt lượng. - Chức năng phương tiện lưu thông: Tiền tệ thực hiện chức năng này khi nó xuất hiện trong lưu thông với tư cách là tiền mặt, làm môi giới trực tiếp cho việc thực hiện giá cả của hàng hóa. - Chức năng phương tiện thanh toán: Tiền tệ thực hiện chức năng phương tiện thanh toán khi nó vận động độc lập tương đối về mặt giá trị so với sự vận động của hàng hóa trong quá trình lưu thông. - Chức năng phương tiện dự trữ: Tiền tệ thức hiện chức năng này khi người chủ sở hữu của nó tạm thời chưa chi mua, chi trả mà dự trữ nó nhằm đáp ứng nhu cầu của mình trong tương lai. - Chức năng tiền tệ thế giới: bao gồm 2 nội dung lầ phương tiện thanh toán quốc tế, phương tiện mua chung và phương tiện di chuyển tài sản xã hội. ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 42
  43. Tài chính – Tiền tệ 3.2. Quy luật lưu thông tiền tệ Quy luật lưu thông tiền tệ là quy luật xác định số lượng tiền cần thiết cho lưu thông sản phẩm xã hội, nó xác định mối liên hệ giữa tổng số hàng háo dịch vụ trong lưu thông với lượng tiền cần thiết trong thời gian đó. “Số lượng các phương tiện lưu thông là do tổng giá trị của hàng hóa lưu thông và tốc độ lưu thông trung bình của tiền tệ quyết định”. Kc = H / V Trong đó: Kc: Số lượng các phương tiện lưu thông hay lượng tiền cần thiết H: Tổng giá cả của hàng hóa V: Tốc độ lưu thông trung bình của tiền tệ Tốc độ lưu thông trung bình của tiền tệ là số lần luân chuyển của một đơn vị tiền tệ để thực hiện chức năng phương tiện lưu thông và phương tiện thanh toán trong một thời gian nhất định, thường là 1 năm. Tốc độ lưu thông trung bình của tiền tệ phụ thuộc vào những yếu tố sau: - Kết cấu của tầng lớp dân cư - Sự phát triển của các ngành thương mại, giao thông vận tải, thông tin - Sự phát triển của hệ thống tài chính, ngân hàng. 3.3. Lạm phát 3.3.1. Khái niệm Lạm phát là hiện tượng tiền giấy tràn đầy trong lưu thông vượt quá nhu cầu cần thiết của lưu thông hàng hoá, làm cho tiền giấy bị mất giá và giá cả hàng hoá được biểu hiện bằng đồng tiền mất giá không ngừng tăng lên. - Dựa vào tỷ lệ tăng giá có thể chia lạm phát theo 3 mức độ khác nhau: + Lạm phát vừa phải khi giá cả hàng hóa tăng dưới 10%, hay còn gọi là lạm phát một con số. Loại lạm phát này có tái dụng thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế. ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 43
  44. Tài chính – Tiền tệ + Lạm phát cao xảy ra khi giá cả hàng hóa tăng ở mức độ hai con số (từ 10% đến 100%/ năm), được gọi là lạm phát phi mã hay lạm phát hai con số . Khi tỷ lệ lạm phát này càng tăng thì càng gây tác hại cho sự phát triển kinh tế xã hội. + Siêu lạm phát xảy ra khi giá cả lạm phát tăng ở mức 3 con số ( trên 100%/ năm) - Dựa vào việc so sánh giữa tỷ lệ tăng giá với tỷ lệ tăng trưởng kinh tế, có thể chia lạm phát theo 2 giai đoạn: + Khi tỷ lệ tăng giá nhỏ hơn tỷ lệ tăng trưởng kinh tế, kinh tế vẫn đang trên đà phát triển, lạm phát ở giai đoạn này chấp nhận được. + Khi tỷ lệ tăng giá lớn hơn tỷ lệ tăng trưởng kinh tế, mức độ lạm phát này ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế. 3.3.2. Tác động của lạm phát Lạm phát cao và triền miên sẽ ảnh hưởng xấu đến mọi mặt của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của một quốc gia. - Lạm phát và lãi suất Trong nền kinh tế, lãi suất thực = lãi suất danh nghĩa – tỷ lệ lạm phát. Do đó, khi tỷ lệ lạm phát tăng cao, nếu muốn lãi suất thực ổn định, lãi suất danh nghĩa phải tăng lên. Việc tăng lãi suất danh nghĩa sẽ dần đến suy thoái kinh tế và thất nghiệp gia tăng. - Lạm phát và thu nhập thực tế Trong trường hợp thu nhập danh nghĩa không đổi, tỷ lệ lạm phát tăng sẽ làm giảm thu nhập thực tế của người lao động. Lạm phát không chỉ làm giảm giá trị thực của những tài sản không có lãi (tiền mặt) mà còn làm hao mòn giá trị của những tài sản có lãi, tức là làm giảm thu nhập thực từ các khoản lãi hay lợi tức. Khi lạm phát tăng, người cho vay phải tăng lãi suất danh nghĩa, làm thuế thu nhập mà người cho vay phải chiu sẽ tăng lên (mặ dù thuế suất không đổi). Kết quả cuối cùng là thu nhập ròng (thu ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 44
  45. Tài chính – Tiền tệ nhập sau thuế), thực (sau khi đã loại trừ tác động của lạm phát) mà người cho vay nhận được bị giảm đi. - Lạm phát và phân phối thu nhập không bình đẳng Trong quan hệ kinh tế giữa người đi vay và người cho vay, khi lạm phát tăng cao, người cho vay sẽ là người chịu thiệt thòi, người đi vay sẽ là người được hưởng lợi. Điều này tạo nên sự phân phối thu nhập không bình đẳng. Hơn thế nữa, lạm phát cao còn thúc đẩy người kinh doanh tăng cường thu hút vốn để đầu tư, do đó đẩy lãi suất càng tăng cao. Tình trạng lạm phát còn có thể gây ra những rối loạn trong nền kinh tế khi người thừa tiền thu gom hàng hóa, tài sản, làm mất cân đối nghiêm trọng quan hệ cung cầu hàng hóa trên thị trường, giá cả leo thang. Trong khi đó người nghèo, vốn đã nghèo lại càng trở nên khốn khó hơn. Khoảng cách về thu nhập, mức sống giữa người giàu và người nghèo càng lớn hợn. - Lạm phát và nợ quốc gia Lạm phát cao, chính phủ được lợi từ việc thu thuế thu nhập đánh vào người dân. Tuy nhiên, lạm phát cao lại làm đồng tiền trong nước mất giá so với đồng ngoại tệ, những khoản nợ nước ngoài sẽ trở nên trầm trọng hơn. 3.3.3. Nguyên nhân gây ra lạm phát - Sự mất cân đối của nền kinh tế quốc dân, sản xuất thấp kém, thâm hụt ngân sách quốc gia. Đây được coi là nguyên nhân của mọi nguyên nhân. Nói cách khác, sự khủng hoảng của nền kinh tế và tài chính của một quốc gia là nguyên nhân cơ bản và sâu xa đưa đến lạm phát. - Lượng tiền cung cấp vào lưu thông quá mức cần thiết cũng là nguyên nhân trực tiếp của lạm phát. - Một nguyên nhân không kém phần quan trọng là hệ thống chính trị bị khủng hoảng do những tác động bên trong hoặc bên ngoài, làm cho lòng tin của dân chúng ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 45
  46. Tài chính – Tiền tệ vào chế độ tiền tệ Nhà nước bị ảnh hưởng, từ đó làm uy tín và sức mua của đồng tiền bị giảm sút. - Nguyên nhân chủ quan khác đó là do Nhà nước chủ động sử dụng lạm phát như là một công cụ để thực thi chính sách kinh tế của mình. Từ những phân tích trên có thể nói rằng lạm phát vừa là một phạm trù kinh tế khách quan, vừa là một công cụ kinh tế được Nhà nước sử dụng để phát triển kinh tế. Vì việc phân phối sản phẩm và thu nhập đều được thực hiện thông qua tiền tệ nên lạm phát là biện pháp để phân phối lại sản phẩm và thu nhập trong nền kinh tế. Như vậy lạm phát mang bản chất kinh tế – xã hội sâu sắc chứ không phải là một hiện tượng tự nhiên của nền kinh tế. 3.3.4. Giải pháp khắc phục - Những biện pháp tình thế Đây là những biện pháp được áp dụng với mục tiêu giảm tức thời cơn sốt lạm phát, thường được áp dụng khi nền kinh tế lâm vào tình trạng siêu lạm phát. + Đóng băng tiền tệ, thực chất là giảm lượng tiền giấy trong nền kinh tế.Các biện pháp được áp dụng như bán ra các chứng khoán ngắn hạn, bán ngoại tệ, phát hành các công cụ nợ, tăng lãi suất tiền gửi tiết kiệm. + Thi hành chính sách tài chính thắt chặt, tạm hoãn các khoản chi chưa thực sự cần thiết, cân đối lại ngân sách, cắt giảm chi tiêu đến mức có thể được. + Tăng quỹ hàng hóa tiêu dùng để cân đối với lượng tiền cần có trong lưu thông bằng cách khuyến khích tự do mậu dịch, giảm nhẹ thuế quan nhằm thu hút hàng hóa từ nước ngoài vào. + Đi vay và xin viện trợ của nước ngoài + Cải cách tiền tệ: Đây là biện pháp cuối cùng phải xử lý khi tỷ lệ lạm phát lên quá cao mà các biện pháp trên chưa mang lại hiệu quả mong muốn. - Những biện pháp chiến lược ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 46
  47. Tài chính – Tiền tệ Các biện pháp này có tác động lâu dài đến sự phát triển của nền kinh tế, tạo cơ sở cho sự ổn dịnh của tiền tệ một cách bền vững. + Thúc đẩy phát triển sản xuất và mở rộng lưu thông hàng hóa: sản xuất trong nước càng phát triển, quỹ hàng hóa tạo ra càng tăng về số lượng và đa dạng về chủng loại sẽ tạo tiền đề vững chắc cho sự ổn định tiền tệ. + Kiện toàn bộ máy hành chính, cắt giảm biên chế quản lý hành chính nhằm giảm chi tiêu thường xuyên của ngân sách Nhà nước, góp phần giảm bội chi cho ngân sách. + Tăng cường công tác quản lý điều hành ngân sách Nhà nước trên cơ sở tăng các khoản thu một cách hợp lý, chống thất thu, nâng cao hiệu quả các khoản chi của ngân sách Nhà nước. Ngoài các biện pháp trên còn cần phải có những tác động tích cực vào tâm lý của người dân. Cần thông tin đầy đủ cho nhân dân về giá cả, chất lượng của hàng hóa, công bố các biện pháp tác động của chính phủ. Các biện pháp chống lạm phát là một hệ thống đồng bộ bao gồm các biện pháp về kinh tế, hành chính, tâm lý, các biện pháp cấp bách và lâu dài. 3.4. Chính sách tiền tệ và vai trò quản lý của ngân hàng trung ương 3.4.1. Ngân hàng trung ương (NHTW) - Khái niệm : Ngân hàng trung ương là một định chế công cộng, có thể độc lập hoặc trực thuộc chính phủ; thực hiện chức năng độc quyền phát hành tiền, là ngân hàng của các ngân hàng, ngân hàng của chính phủ và chịu trách nhiệm trong việc quản lý nhà nước về các hoạt động tiền tệ, tín dụng, ngân hàng. - Chức năng 1. Chức năng ngân hàng của quốc gia : Được thể hiện ở các nhiệm vụ sau + Ngân hàng phát hành tiền : Ngân hàng Trung ương được giao trọng trách độc quyền phát hành tiền theo các qui định trong luật hoặc được chính phủ phê duyệt (về mệnh giá, loại tiền, mức phát hành ) nhằm đảm bảo thống nhất và an toàn cho hệ ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 47
  48. Tài chính – Tiền tệ thống lưu thông tiền tệ của quốc gia. Đồng tiền do NHTW phát hành là đồng tiền lưu thông hợp pháp duy nhất, nó mang tính chất cưỡng chế lưu hành, vì vậy mọi người không có quyền từ chối nó trong thanh toán. Nhiệm vụ phát hành tiền còn bao gồm trách nhiệm của NHTW trong việc xác định số lượng tiền cần phát hành, thời điểm phát hành cũng như phương thức phát hành để đảm bảo sự ổn định tiền tệ và phát triển kinh tế. + Ngân hàng của các ngân hàng : Ngân hàng trung ương không tham gia kinh doanh tiền tệ, tín dụng trực tiếp với các chủ thể trong nền kinh tế mà chỉ thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng với các ngân hàng trung gian. Bao gồm: - Mở tài khoản và nhận tiền gửi của các ngân hàng trung gian dưới dạng Tiền gửi dự trữ bắt buộc và tiền gửi thanh toán; - Cấp tín dụng cho các ngân hàng trung gian dưới hình thức chiết khấu lại (tái chiết khấu) các chứng từ có giá ngắn hạn do các ngân hàng trung gian nắm giữ. Việc cấp tín dụng của NHTW cho các ngân hàng trung gian không chỉ giới hạn ở nghiệp vụ tái chiết khấu các chứng từ có giá mà còn bao gồm cả các khoản cho vay ứng trước có đảm bảo bằng các chứng khoán đủ tiêu chuẩn, các khoản tiền gửi bằng ngoại tệ tại NHTW; - Là trung tâm thanh toán bù trừ cho hệ thống ngân hàng trung gian: Vì các ngân hàng trung gian đều mở tài khoản và ký gửi các khoản dự trữ bắt buộc và dự trữ vượt mức tại NHTW nên chúng có thể thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt qua NHTW thay vì thanh toán trực tiếp với nhau. Khi đó, NHTW đóng vai trò là trung tâm thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng trung gian. + Ngân hàng của chính phủ : Là một định chế tài chính công cộng, NHTW đã được xác định ngay từ khi ra đời là ngân hàng của chính phủ. Với chức năng này, NHTW có nghĩa vụ cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho chính phủ, đồng thời làm đại lý, đại diện và tư vấn chính sách cho chính phủ. 2. Chức năng quản lý vĩ mô về tiền tệ, tín dụng và hoạt động ngân hàng ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 48
  49. Tài chính – Tiền tệ Đây là chức năng quyết định bản chất NHTW của một ngân hàng phát hành. Việc thực hiện chức năng này không thể tách rời khỏi các nghiệp vụ ngân hàng của NHTW. Nói cách khác, NHTW quản lý vĩ mô các hoạt động tiền tệ và tín dụng thông qua khả năng kinh doanh của mình. + Xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia: Chính sách tiền tệ là chính sách kinh tế vĩ mô trong đó NHTW sử dụng các công cụ của mình để điều tiết và kiểm soát khối lượng tiền trong lưu thông nhằm đảm bảo sự ổn định giá trị tiền tệ đồng thời thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế và đảm bảo công ăn việc làm. + Thanh tra, giám sát hoạt động của hệ thống ngân hàng: Với tư cách là ngân hàng của các ngân hàng, NHTW không chỉ cung ứng các dịch vụ ngân hàng thuần tuý cho các ngân hàng trung gian, mà thông qua các hoạt động đó, NHTW còn thực hiện vai trò điều tiết, giám sát thường xuyên hoạt động của các ngân hàng trung gian nhằm: Đảm bảo sự ổn định trong hoạt động ngân hàng và bảo vệ lợi ích của các chủ thể trong nền kinh tế, đặc biệt là của những người gửi tiền, trong quan hệ với ngân hàng. 3.4.2. Chính sách tiền tệ - Khái niệm: Chính sách tiền tệ là một trong những công cụ quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước, là hệ thống các biện pháp mà NHTW thực hiện trong lĩnh vực tiền tệ nhằm điều hành cung, câu tiền tệ. Chính sách tiền tệ được hoạch định theo một trong hai hướng: + Chính sách tiền tệ mở rộng: là các biện pháp nhằm làm tăng lượng tiền cung ứng trong lưu thông, khuyến khích đầu tư, mở rộng SXKD, tạo việc làm. Trong trường hợp này, chính sách tiền tệ nhằm chống suy thoái kinh tế, chống thất nghiệp. + Chính sách tiền tệ thắt chặt: là các biện pháp nhằm làm giảm lượng tiền cung ứng trong lưu thông, hạn chế đầu tư, kìm hãm sự phát triển quá đà của nền kinh tế. Trường hợp này, chính sách tiền tệ nhằm chống lạm phát. - Các mục tiêu của chính sách tiền tệ ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 49
  50. Tài chính – Tiền tệ • Kiểm soát lạm phát, ổn định giá trị đồng bản tệ Thực chất của mục tiêu này là kiểm soát lạm phát để bảo vệ giá trị đối nội của đồng tiền (duy trì sức mua của đồng tiền với hàng hóa, dịch vụ trong nước) và giá trị đối ngoại của đồng tiền quốc gia (nhằm phục vụ cho các chính sách xuất nhập khẩu của nền kinh tế). Đây là mục tiêu hàng đầu của chính sách tiền tệ. Khi lạm phát cao, NHTW thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, sẽ làm cho giá cả hàng hóa dịch vụ giảm xuống, tỷ lệ lạm phát giảm xuống. • Tạo công ăn việc làm cho người lao động Công ăn việc làm là điều ai cũng mong muốn. Thông qua chính sách tiền tệ có thể làm thay đổi tỷ lệ thất nghiệp trong nền kinh tế. Khi NHTW thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng, tạo điều kiện mở rộng đầu tư sản xuất, tạo nhiều việc làm hơn Tuy nhiên, theo đuổi mục tiêu tạo việc làm không đồng nghĩa với việc tỷ lệ thất nghiệp bằng không, mà là ở tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên. Mặt khác, để có một tỷ lệ công ăn việc làm cao thì phải chấp nhận một tỷ lệ lạm phát nhất định. Hai mục tiêu này luôn triệt tiêu nhau trong quá trình thực thi chính sách tiền tệ. • Tăng trưởng kinh tế Mục tiêu tăng trưởng kinh tế luôn gắn chặt với mục tiêu việc làm cao. Chính sách tiền tệ có thể tác động đồng thời đến hai mục tiêu này. Khi cung ứng tiền tệ tăng, trong ngắn hạn, lãi suất tín dụng giảm sẽ khuyến khích đàu tư, mở rộng SXKD, làm tăng sản lưởng và tăng trưởng kinh tế. Ngược lại , khi chính sách tiền tệ thắt chặt được thực hiện, trong ngắn hạn lãi suất tăng sẽ hạn chế đầu tư, thu hẹp hoạt động SXKD, mức sản lượng giảm và tăng trưởng kinh tế chậm lại. - Các công cụ của chính sách tiền tệ + Nghiệp vụ thị trường mở Nghiệp vụ thị trường mở là việc ngân hàng trung ương mua và bán các chứng khoán có giá, chủ yếu là tín phiếu kho bạc nhà nước, nhằm làm thay đổi lượng tiền cung ứng. ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 50
  51. Tài chính – Tiền tệ Khi NHTW mua chứng khoán làm tăng lượng tiền trong lưu thông, chính sách tiền tệ mở rộng được thực hiện. Ngược lại, khi NHTW bán chứng khoán, lượng tiền trong lưu thông giảm, chính sách tiền tệ thắt chặt được thực hiện. Đây là công cụ quan trọng nhất của NHTW trong việc điều tiết lượng tiền cung ứng. Công cụ này có thể thực hiện được nhanh chóng, ít tốn kém về thời gian và chi phí, đồng thời NHTW hoàn toàn chủ động và kiểm soát được lượng tiền điều chỉnh lớn hay nhỏ. Tuy nhiên, công cụ này chỉ phát huy hiệu quả khi phần lớn lượng tiền trong lưu thông phải nằm ở các ngân hàng thương mại và trong nền kinh tế, cơ chế thanh toán không dùng tiền mặt. + Chính sách chiết khấu Chính sách chiết khấu là công cụ của NHTW thông qua việc cho vay tái cấp vốn cho các ngân hàng thương mại. Khi NHTW cho vay, làm tăng thêm lượng tiền dự trữ trong hệ thống ngân hàng, từ đó làm tăng thêm lượng tiền cung ứng. NHTW kiểm soát công cụ này chủ yếu bằng cách tác động đến giá cả khoản vay (lãi suất tái chiết khấu). Khi NHTW nâng lãi suất tái chiết khấu, giá các khoản vay tăng, làm giảm khả năng vay vốn của nền kinh tế, lượng tiền trong lưu thông giảm và ngược lại. Chính sách chiết khấu là một công cụ rất quan trọng trong việc thực thi chính sách tiền tệ của NHTW. Nó không chỉ điều tiết lượng tiền cung ứng mà còn để thực hiện vai trò người cho vay cuối cùng đối với các tổ chức tín dụng, tác động đến việc điều chỉnh cơ cấu đầu tư đối với nền kinh tế. Tuy nhiên, với công cụ này, NHTW thường bị động trong việc điều tiết lượng tiền cung ứng. + Chính sách dự trữ bắt buộc Dự trữ bắt buộc là tiền gửi của các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng ở NHTW, do NHTW quy định, bằng một tỷ lệ nhất định so với tổng số tiền gửi của khách hàng tại ngân hàng, tổ chức tín dụng. Chế độ dự trữ bắt buộc có thể khác nhau ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 51
  52. Tài chính – Tiền tệ qua từng thời kỳ, từng quốc gia nhưng nhìn chung đều mang tính pháp luật, được giữ ở NHTW và không được hưởng lãi. Thông qua việc thay đổi mức dự trữ bắt buộc, NHTW tác động đến việc cung cấp tiền tệ cho nền kinh tế. Khi NHTW nâng mức dự trữ bắt buộc lên thì khả năng tín dụng của các ngân hàng thương mại giảm xuống. Mặt khác để bù vào phần lãi không được hưởng, các ngân hàng thương mại sẽ tăng lãi suất tín dụng, giá các khoản vay sẽ cao hơn, khả năng cho vay giảm xuống, theo đó lượng tiền cung ứng sẽ giảm xuống. Việc tăng lên hay giảm xuống mức dự trữ bắt buộc sẽ làm giảm hay tăng lượng tiền cung ứng trong lưu thông. Công cụ này hiện nay đóng vai trò kém phần quan trọng trong việc thực thi chính sách tiền tệ do phức tạp, kém linh hoạt, ảnh hưởng đến lợi nhuận của các ngân hàng thương mại. Ngoài các công cụ trên, chính sách tiền tệ còn được thực hiện thông qua một số công cụ khác như kiểm soát lãi suất của các ngân hàng thương mại, kiểm soát hạn mức tín dụng ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 52
  53. Tài chính – Tiền tệ Chương 4 Tín dụng 4.1. Khái niệm, đặc trưng của tín dụng 4.1.1. Khái niệm Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng vốn của một người (người cho vay) cho một người khác (người đi vay) được sử dụng trong một thời gian nhất định với cam kết hoàn trả kèm theo lãi. Khái niệm tín dụng bao hàm 2 nội dung: Thứ nhất, tín dụng thể hiện sự tin tưởng người đi vay sẽ hoàn thành nghĩa vụ đã cam kết. Thứ hai, tín dụng thể hiện một kết quả sẽ mang lại trong tương lai. 4.1.2. Đặc trưng cơ bản của tín dụng - Trong quan hệ tín dụng có sự tín nhiệm, tin tưởng giữa hai bên, người cho vay phải tin tưởng vào người đi vay. Để có sự tin tưởng này, người đi vay phải điều tra, phân tích, đánh giá chính xác ý muốn và khả năng trả nợ của người đi vay. Trong một số trường hợp, sự tin tưởng này được thực hiện thông qua bảo đảm tín dụng. - Tín dụng có tính thời hạn. Quan hệ tín dụng luôn quy định thời hạn tín dụng. Thời hạn tín dụng được xác định chủ yếu phụ thuộc vào thời gian cần sử dụng tín dụng của người đi vay cũng như mục đích vay. Bao gồm + Thời hạn cho vay: là khoảng thời gian kể từ khi người cho vay bắt đầu cho vay đến khi người đi vay trả hết nợ. + Thời hạn trả nợ: là khoảng thời gian kể từ khi người đi vay bắt đầu trả nợ cho đến khi trả hết nợ. + Kỳ hạn trả nợ: Là những khoảng thời gian bằng nhau mà người cho vay quy định để định hướng cho người đi vay trong việc trả nợ. ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 53
  54. Tài chính – Tiền tệ - Quan hệ tín dụng là sự vay mượn trên nguyên tắc hoàn trả (đủ cả gốc lẫn lãi) - Hoạt động tín dụng trong nền kinh tế chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế khách quan như quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu - Hoạt động tín dụng luôn chứa đựng khả năng rủi ro, do đó việc thực hiện bảo đảm tín dụng là cần thiết. 4.1.3. Nguyên nhân làm phát sinh quan hệ tín dụng Tổng quan chung có thể thấy, cung và cầu về vốn được hình thành một cách khách quan trên thị trường tài chính, là nguyên nhân phát sinh các quan hệ tín dụng. - Sự hình thành cung: Cung về vốn tiền tệ cho vay hình thành từ nhiều nguồn + Vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi được giải phóng ra khỏi quá trình SXKD của các doanh nghiệp như quỹ khấu hao TSCĐ chưa sử dụng; tiền để mua nguyên vật liệu, trả lương cho nhân viên nhưng chưa đến kỳ hạn, lợi nhuận tích lũy để tải SXKD chua cần sử dụng + Vốn tiền tệ của doanh nghiệp nhưng không đầu tư vào SXKD mà cho vay để kiếm lời. + Tiền tiết kiệm của các tầng lớp dân cư trong xã hội dduwwocj các trung gian tài chính huy động, tạo lập quỹ cho vay. - Sự hình thành cầu: Trong nền kinh tế, tại bất cứ thời điểm nào, luôn tồn tại nhu cầu về vốn tiền tệ của các chủ thể khác nhau, với các mục đích khác nhau như: + Các doanh nghiệp cần vốn cố định và vốn lưu động để phục vụ quá trình SXKD của mình. + Các hộ gia đình và cá nhân cần vốn tiền tệ để phục vụ nhu cầu tiêu dùng. + Nhà nước cần vay tiền để tạm thời cân bằng thu chi trong trường hợp bội chi ngân sách Nhà nước. 4.2. Các hình thức tín dụng 4.2.1. Căn cứ vào thời hạn tín dụng, có 3 loại ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 54
  55. Tài chính – Tiền tệ - Tín dụng ngắn hạn: Là tín dụng có thời hạn cho vay tối đa là 12 tháng. Những khoản tín dụng này thường đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của các cá nhân trong xã hội hay nhu cầu vốn lưu động của các doanh nghiệp. - Tín dụng trung hạn: Là tín dụng có thời hạn cho vay từ 12 đến 36 tháng. - Tín dụng dài hạn: Là tín dụng có thời hạn cho vay trên 36 tháng. 4.2.2. Căn cứ vào sự đảm bảo, có 2 loại - Tín dụng không đảm bảo: Là quan hệ tín dụng mà người cho vay chỉ dựa vào tín nhiệm của người đi vay. - Tín dụng có đảm bảo: Là quan hệ tín dụng mà người đi vay phải thực hiện bảo đảm tín dụng dưới hình thức bảo lãnh, cầm cố 4.2.3. Căn cứ vào chủ thể cho vay và khách thể nhận tiền vay: - Tín dụng thương mại: Là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp, được thực hiện dưới hình thức mua bán chịu hàng hóa. - Tín dụng Nhà nước: Là quan hệ tín dụng giữa Nhà nước và công chúng, trong đó Nhà nước thường đóng vai trò là người đi vay. - Tín dụng Ngân hàng: Là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với các tổ chức kinh tế, cá nhân trong xã hội. - Tín dụng thuê mua: Tín dụng thuê mua là quan hệ phát sinh giữa các công ty cho thuê tài chính với doanh nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân dưới hình thức cho thuê tài sản - Tín dụng quốc tế: Là quan hệ tín dụng phát sinh giũa chủ thể của một nước với chủ thể của nước khác và các tổ chức tín dụng. 4.2.4. Căn cứ vào mục đích cho vay, có 2 loại - Tín dụng cho sản xuất, lưu thông hàng hóa: Là tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn phục hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. - Tín dụng tiêu dùng: Là tín dụng phục vụ nhu cầu tiêu dùng của cá nhân trong xã hội. ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 55
  56. Tài chính – Tiền tệ 4.2.5. Căn cứ vào lĩnh vực cho vay, gồm nhiều loại như tín dụng cho công nghiệp, tín dụng cho xuất nhập khẩu, tín dụng cho giao thông vận tải 4.2.6. Căn cứ vào tính kế hoạch hóa, có 2 loại - Tín dụng trong hạn mức: Là các khoản cho vay trong phạm vi hạn mức tín dụng mà ngân hàng và người đi vay đã thỏa thuận và được ghi trong kế hoạch vay vốn. - Tín dụng ngoài kế hoạch: Là các khoản cho vay không nằm trong kế hoạch cho vay đã dự kiến. 4.2.7. Căn cứ vào lãi suất tín dụng, có 2 loại - Tín dụng theo lãi suất quy định: thường ứng với các khoản vay trong hạn mức, - Tín dụng theo lãi suất thỏa thuận: thường ứng với các khoản vay ngoài kế hoạch. 4.3. Tín dụng ngân hàng Tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn về vốn tiền tệ giữa ngân hàng và các đơn vị kinh tế, các tổ chức và cá nhân trong xã hội theo nguyên tắc có hoàn trả. Hoạt động tín dụng ngân hàng bao gồm 2 nghiệp vụ chính là huy động vốn và cho vay. 4.3.1. Huy động vốn Huy động vốn của các ngân hàng thương mại là việc tập trung các nguồn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế về quỹ ngân hàng. Các nguồn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế mà ngân hàng huy động bao gồm số dư trên tài khoản tiền gửi của các doanh nghiệp, vốn huy động do phát hành trái phiếu, kỳ phiếu ngân hàng, tiền gửi tiết kiệm Huy động vốn là nghiệp vụ quan trọng, là điều kiện tiền đề của nghiệp vụ cho vay. Khi thực hiện huy động vốn, ngân hàng phải tuân theo các nguyên tắc sau: + Việc huy động vốn phải trên cơ sở nhu cầu cho vay. Ngân hàng phải tính toán nhu cầu cho vay để xác định số vốn cần huy động, không để vốn huy động không được sử dụng. ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 56
  57. Tài chính – Tiền tệ + Ngân hàng nhận tiền gửi của khách hàng phải có trách nhiệm hoàn trả đầy đủ, đúng hạn cả vốn và lãi theo yêu cầu của người gửi. + Ngân hàng không được phát hành trái phiếu mà việc phát hành đó tạo cho các chủ sở hữu trái phiếu giành được quyền quản lý trực tiếp hay gián tiếp đối với mình. 4.3.2. Cho vay Cho vay hay còn gọi là cấp tín dụng, là việc giao cho người khác sử dụng một tài sản thực tại hay một sức mua đã hình thành. Khi tiến hành cấp tín dụng, ngân hàng phải tuân theo những nguyên tắc và điều kiện nhất định. - Các nguyên tắc cho vay + Cho vay phải xét phương hương, mục tiêu, kế hoạch SXKD của người vay vốn có phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của Nhà nước hay không và phải có hiệu quả. + Cho vay phải có vật tư bảo đảm, có tài sản thế chấp. + Cho vay phải hoàn trả đúng hạn cả vốn lẫn lãi. Nguyên tắc này nhằm bảo đảm khả năng thanh toán của ngân hàng và bảo đảm sự tồn tại và phát triển của hoạt động tín dụng. + Cho vay phải đề phòng và có biện pháp tránh rủi ro. - Điều kiện cho vay: Để được vay vốn của ngân hàng, các doanh nghiệp phải đáp ứng được các yêu cầu cơ bản sau: + Doanh nghiệp vay vốn là đơn vị hạch toán kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, SXKD phải có lãi. + Doanh nghiệp vay vốn phải mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng cho vay và tài khoản đó đãcó hoạt động. + Phải tổ chức hạch toán và quản lý tài chính theo pháp lệnh kế toán thống kê. + Phải có vốn tự có tham gia vào tổng nhu cầu vốn cần thiết theo quy định. + Chấp nhận thể lệ tín dụng ngân hàng. 4.4. Lãi suất tín dụng ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 57
  58. Tài chính – Tiền tệ 4.4.1. Khái niệm Lãi suất tín dụng chính là giá cả của tín dụng, giá cả của quan hệ vay mượn hoặc cho thuê những dịch vụ về vốn dưới hình thức tiền tệ hoặc tài sản. Lãi suất tín dụng được xác định bằng tỷ lệ phần trăm giữa tổng số lợi tức thu được (hoặc phải trả) so với tổng số tiền cho vay (hoặc đi vay) trong cùng một khoảng thời gian nhất định. Lãi suất tín dụng chịu sự tác động của nhiều nhân tố như: - Chính sách tiền tệ của Nhà nước - Mức độ lạm phát của nền kinh tế - Quan hệ cung cầu về vốn trên thị trường - Sự biến động lãi suất trên thị trường quốc tế - Trình độ hạch toán của các ngân hàng 4.4.2. Ý nghĩa của lãi suất Lãi suất có ý nghĩa quan trọng, ảnh hưởng phần nào đến những biến động của nền kinh tế. Dưới góc độ kinh tế vĩ mô, lãi suất là công cụ để điều tiết cho vay hiệu quả. Thông qua việc thay đổi mức và cơ cấu lãi suất, chính phủ có thể tác động đến quy mô, cơ cấu vốn đầu tư, qua đó tác động đến sản lượng, mức độ tăng trưởng, tỷ lệ thất nghiệp Bên cạnh đó, trong điều kiện kinh tế mở, khi thay đổi chính sách lãi suất sẽ góp phần tác động đến dòng vốn dịch chuyển vào, ra, qua đó tác động đến tỷ giá hối đoái, hoạt động xuất nhập khẩu Dưới góc độ kinh tế vi mô, lãi suất tín dụng là cơ sở để các doanh nghiệp, cá nhân đưa ra các quyết định kinh tế của mình như đầu tư vốn vào đâu, nên tiết kiệm hay chi tiêu 4.4.3. Các loại lãi suất - Lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực: Trong thực tế, có những trường hợp những khoản thu nhập không phản ánh đúng giá trị thực của chính nó. Tỷ lệ lạm phát ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 58
  59. Tài chính – Tiền tệ hay tỷ lệ trượt giá của đồng tiền là nguyên nhân chính khiến giá trị thực trở nên nhỏ hơn giá trị danh nghĩa. + Lãi suất danh nghĩa: Là lãi suất thỏa thuận giữa người đi vay và người cho vay, được ghi trong hợp đồng vay vốn. + Lãi suất thực: Là lãi suất danh nghĩa có tính đến tỷ lệ lạm phát cũng như các chi phí phát sinh khác. - Lãi suất cơ bản của ngân hàng: Đối với các ngân hàng, có 3 loại lãi suất cơ bản. + Lãi suất tiền gửi: Là mức lãi suất mà ngân hàng thương mại trả cho người gửi tiền trên số tiền ở tài khoản tiền gửi tiết kiệm. + Lãi suất cho vay: Là mức lãi suất áp dụng với nghiệp vụ cho vay của ngân hàng, được xác định trên cơ sở lãi suất tiền gửi và phụ thuộc tính chất và thời hạn của các khoản vay. + Lãi suất liên ngân hàng: Là lãi suất giữa các ngân hàng thương mại khi cho nhau vay tiền nhằm giải quyết nhu cầu vốn ngắn hạn trên thị trường tiền tệ. - Lãi suất trần và lãi suất sản: Là những mức lãi suất cao nhất và thấp nhất trong khung lãi suất do ngân hàng trung ương quy định để định hướng cho hoạt động tín dụng trong nền kinh tế. - Lãi suất chiết khấu và lãi suất tái chiết khấu + Lãi suất chiết khấu: Là tỷ lệ phần trăm giữa tổng số lợi tức chiết khấu mà ngân hàng thu được khi chiết khấu một thương phiếu nào đó cho khách hàng so với mệnh giá của thương phiếu đó. + Lãi suất tái chiết khấu: Là lãi suất mà ngân hàng trung ương thực hiện khi chiết khấu một thương phiếu nào đó cho ngân hàng thương mại. Đây là công cụ quan trọng để ngân hàng trung ương thực hiện chính sách tiền tệ. Ngoài ra còn có một số loại lãi suất khác: ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 59
  60. Tài chính – Tiền tệ - Lãi suất trung bình của thị trường tiền tệ: Là lãi suất được tính vào cuối tháng, trên cơ sở trung bình hóa lãi suất hàng ngày của thị trường tiện tệ trong tháng đó. Đây là căn cứ để ký kết các hợp đồng tín dụng. - Lãi suất cơ bản: Là lãi suất mà ngân hàng ấn định hàng năm, trên cơ sở đó để tính các lãi suất khác. ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 60
  61. Tài chính – Tiền tệ Chương 5 Tài chính doanh nghiệp 5.1.Những vấn đề chung về tài chính doanh nghiệp 5.1.1. Khái niệm và các mối quan hệ tài chính DN 5.1.1.1.Khái niệm doanh nghiệp Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân, quy tụ các phương tiện tài chính, vật chất và con người nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng, tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ, trên cơ sở tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng, thông qua đó tối đa hóa lợi của chủ sở hữu, đồng thời kết hợp một cách hợp lý các mục tiêu xã hội. Trong kinh tế thị trường các loại hình doanh nghiệp phát triển một cách đa dạng, phong phú. Nếu dựa vào tính chất pháp lý thì doanh nghiệp được chia thành doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Nếu xét trên góc độ cung cầu vốn trong nền kinh tế thì doanh nghiệp được chia thành doanh nghiệp tài chính kinh doanh tiền tệ và doanh nghiệp phi tài chính kinh doanh hàng hóa dịch vụ thông thường. Trong chương này chỉ đề cập đến doanh nghiệp phi tài chính (doanh nghiệp SXKD). Tài chính doanh nghiệp (TCDN) là tài chính của các tổ chức sản xuất kinh doanh có tư cách pháp nhân và là một khâu tài chính cơ sở trong hệ thống tài chính. Vì tại đây diễn ra quá trình tạo lập và chu chuyển vốn gắn liền với qua trình sản xuất, đầu tư, tiêu thụ và phân phối. Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần phải có số vốn ban đầu để mua sắm những yếu tố cần thiết như tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động. Trong hoạt động đầu tư và hoạt động kinh doanh thường xuyên của doanh nghiệp, các quỹ tiền tệ được hình thành, phân phối và sử dụng, thể hiện bằng ĐHGTVT BM. Kinh tế Vận Tải Page 61