Thực trạng và một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển kinh tế tư nhân tại Việt Nam

pdf 16 trang Đức Chiến 04/01/2024 210
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng và một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển kinh tế tư nhân tại Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdfthuc_trang_va_mot_so_giai_phap_co_ban_nham_phat_trien_kinh_t.pdf

Nội dung text: Thực trạng và một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển kinh tế tư nhân tại Việt Nam

  1. TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 10 - 2018 ISSN 2354-1482 THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN TẠI VIỆT NAM Ngô Thùy Dung1 TÓM TẮT Việt Nam hiện nay với một nền kinh tế đa thành phần cùng tồn tại và phát triển, không còn dừng lại ở khía cạnh xem xét để xóa bỏ hay ưu tiên bất cứ thành phần kinh tế nào mà cần nhận thấy mỗi thành phần kinh tế có bản chất riêng, có quy luật kinh tế riêng, dựa trên mỗi một hình thức sở hữu nhất định về tư liệu sản xuất. Vì vậy điều quan trọng là phải nắm giữ bản chất của từng thành phần kinh tế và sử dụng chúng một cách có hiệu quả nhất để đẩy nhanh quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế, chủ động mở cửa hội nhập sâu hơn nữa vào kinh tế quốc tế giúp cho nền kinh tế nước nhà ngày càng vững mạnh. Bài viết này tác giả chủ yếu phân tích thực trạng của kinh tế tư nhân, một số bài học kinh nghiệm của các nước trên thế giới và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế tư nhân trong thời gian tới. Từ khóa: Kinh tế tư nhân, kinh nghiệm, thực trạng, giải pháp 1. Đặt vấn đề tế tư nhân đang góp phần tích cực giải Trong hơn ba thập kỷ qua, khu vực quyết các vấn đề kinh tế - xã hội cơ bản kinh tế tư nhân Việt Nam đã có bước của đất nước. Từ chỗ xa lánh, coi nhẹ, phát triển cả về lượng và chất. Từ chỗ xã hội đã ngày càng tôn vinh những chủ yếu chỉ có các hộ kinh doanh cá doanh nhân trên thương trường. thể, nhỏ lẻ Việt Nam đã có những Tuy nhiên sự phát triển của khu vực doanh nghiệp tư nhân theo đúng nghĩa; kinh tế tư nhân ở Việt Nam vẫn đang một số ít doanh nghiệp đã trở thành các phải đối mặt với nhiều rào cản, khiến tập đoàn kinh tế lớn. Từ chỗ chủ yếu cho khu vực này chưa phát huy được hoạt động trong khu vực phi chính thức, hết tiềm năng của mình để thực sự đóng một bộ phận kinh tế tư nhân đã chuyển vai trò là “động lực quan trọng của nền sang hoạt động trong khu vực chính kinh tế” cũng như phải đối mặt với thức của nền kinh tế, theo các quy định nhiều thách thức lớn trong bối cảnh của pháp luật. Đến nay, phạm vi kinh phát triển mới cả trong nước và quốc tế. doanh của khu vực kinh tế tư nhân đã Thông qua phân tích những tình hình rộng khắp, ở mọi ngành mà pháp luật thực tế và kết hợp kinh nghiệm của các không cấm, trong đó có những ngành quốc gia trên thế giới bài viết sẽ đưa ra công nghệ cao, năng suất cao cho dù những giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát vẫn còn rất ít. Đặc biệt, trong những triển của khu vực này. năm qua, một làn sóng khởi nghiệp đã 2. Những đặc điểm phát triển của diễn ra, đem lại một sức sống mới, năng khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam động hơn cho nền kinh tế. Khu vực kinh 1Trường Đại học Thương mại Email: dungthuy.dhtm@gmail.com 60
  2. TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 10 - 2018 ISSN 2354-1482 2.1. Số lượng doanh nghiệp lớn và 2002 lên tới 4,67 triệu hộ vào năm 2014 đa dạng về loại hình, tốc độ tăng trưởng và 4,75 triệu hộ năm 2015 [2]. nhanh nhưng thiếu bền vững với tỷ lệ Theo kết quả tổng hợp nhanh từ phá sản và ngưng hoạt động cao Báo cáo sơ bộ kết quả tổng điều tra Về loại hình, khu vực kinh tế tư nông thôn, nông nghiệp và thủy sản nhân ở Việt Nam khá đa dạng về loại năm 2016 [2] đến thời điểm 1/7/2016, hình doanh nghiệp từ doanh nghiệp cả nước có 9,32 triệu hộ nông, lâm và ngoài quốc doanh (doanh nghiệp tư thủy sản và trong đó khu vực nông thôn nhân, công ty hợp danh, công ty trách là 8,61 triệu hộ, chiếm 92,4%. Cũng tại nhiệm hữu hạn tư nhân, công ty cổ phần thời điểm 1/7/2016, cả nước có 33.488 tư nhân và công ty cổ phần có vốn nhà trang trại. nước với 50% vốn điều lệ trở xuống), Tuy có sự gia tăng mạnh mẽ về số tới các hộ kinh doanh cá thể (hộ kinh lượng doanh nghiệp, chiếm tỷ trọng lớn doanh cá thể phi nông nghiệp và hộ nhưng tỷ lệ phá sản và ngưng hoạt động nông lâm thủy sản). cũng rất cao và điều đó cho thấy sự tăng Về số lượng, số lượng doanh nghiệp trưởng thiếu bền vững của các doanh ngoài quốc doanh đã tăng trưởng ngoạn nghiệp này. Trong số hơn 10.400 doanh mục trong thời gian qua, từ con số nghiệp chính thức phá sản năm 2016, có 55.200 doanh nghiệp (bao gồm cả các khoảng 9.700 doanh nghiệp có quy mô hợp tác xã), tăng lên 239.000 (gấp 4 lần) vốn dưới 10 tỷ đồng, chiếm hơn 93,3% vào năm 2009 và lên 401.026 doanh và tăng 23,3% so với cùng kỳ năm nghiệp đang hoạt động vào cuối năm trước. Đây tiếp tục là dấu hiệu đáng lo 2014. Số liệu điều tra tính tới tháng đối với khu vực kinh tế tư nhân, trong 12/2014 cho thấy trong số các doanh đó khó khăn lớn nhất là khu vực sản nghiệp đang hoạt động, doanh nghiệp xuất hộ gia đình, cá nhân nhỏ lẻ [3] nhà nước chỉ chiếm 0,8% tổng số doanh Thêm vào đó, có một thực tế là các hộ nghiệp, số doanh nghiệp có vốn đầu tư kinh doanh cá thể thiếu động lực để trực tiếp nước ngoài (FDI) chiếm 2,7% phát triển trở thành những doanh nghiệp và còn lại là các doanh nghiệp ngoài nhà lớn. Khu vực phi chính thức thiếu động nước chiếm 96,5% trên tổng số doanh lực chuyển sang hoạt động một cách nghiệp [1]. chính thức. Số liệu thống kê từ Tổng điều tra 2.2. Quy mô doanh nghiệp còn rất các cơ sở kinh doanh cá thể phi nông nhỏ (xét theo các tiêu chí vốn và lao nghiệp năm 2015 cho thấy số lượng hộ động) trong tương quan so sánh với kinh doanh cá thể phi nông nghiệp tăng doanh nghiệp Nhà nước và doanh liên tục từ khoảng 2,26 triệu hộ năm nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) 61
  3. TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 10 - 2018 ISSN 2354-1482 Đối với doanh nghiệp ngoài quốc con số này ở khu vực doanh nghiệp nhà doanh, số liệu được công bố bởi Bộ Kế nước là 5% và 66%, ở khu vực FDI là hoạch và Đầu tư năm 2014 cho thấy có 2,0% và 41%. tới 97,6% doanh nghiệp đang hoạt động Đối với các hộ kinh doanh cá thể phi tại Việt Nam là các doanh nghiệp nhỏ nông nghiệp, quy mô lao động của các và vừa. Số liệu cũng cho thấy tuyệt đại hộ kinh doanh này cũng rất thấp. Tính đa số các doanh nghiệp ngoài nhà nước bình quân chung năm 2015 có gần 1,68 có quy mô nhỏ và siêu nhỏ [4]. Kết quả lao động làm việc trong 1 cơ sở. Số vốn Điều tra Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp kinh doanh bình quân là 150,6 triệu tỉnh (PCI) năm 2015 ở Việt Nam cũng đồng/cơ sở trong đó giá trị tài sản cố cho thấy con số tương tự: Trong số định là 90,4 triệu đồng/cơ sở và điều đó 8.335 doanh nghiệp dân doanh được lấy thể hiện sự hạn chế trong đầu tư cho sản mẫu tại 63 tỉnh, thành phố ở Việt Nam xuất kinh doanh của các cơ sở cá thể. thì có tới 97,3% doanh nghiệp là các 2.3. Lĩnh vực kinh doanh đa dạng, doanh nghiệp nhỏ và vừa [5]. chủ yếu tập trung vào khu vực dịch vụ, So sánh với các loại hình doanh có xu hướng tháo lui khỏi lĩnh vực công nghiệp khác, các doanh nghiệp ngoài nghiệp và mất thị phần trong lĩnh vực nhà nước có quy mô nhỏ hơn rất nhiều phân phối, bán lẻ vào tay các doanh về vốn và lao động. Năm 2010, số lao nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài động bình quân của một doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp ngoài quốc Nhà nước là 516 lao động, doanh doanh, số liệu từ niên giám thống kê nghiệp FDI là 297 lao động và doanh các năm từ 2002 - 2015 cho thấy lĩnh nghiệp ngoài nhà nước chỉ là 22 lao vực chiếm tỷ trọng lớn nhất là thương động. Số liệu tính tới tháng 12/2014 cho mại, bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe thấy bình quân doanh nghiệp ngoài nhà máy và xe cơ giới khác. Trong giai nước chỉ sử dụng 18 lao động, doanh đoạn từ 2002 - 2014, lĩnh vực này nghiệp FDI là 312 lao động và doanh chiếm tới 39-41% tổng số doanh nghiệp nghiệp nhà nước là 504 lao động [1]. ngoài nhà nước. Tiếp theo là lĩnh vực Đặc biệt, các doanh nghiệp ngoài nhà chế tạo và chế biến với tỷ trọng là nước có quy mô siêu nhỏ (dưới 10 23,5% vào năm 2002, giảm xuống còn người) chiếm tới gần 70%. Xét về quy 16% vào năm 2014. Lĩnh vực chiếm tỷ mô vốn, các doanh nghiệp ngoài nhà trọng lớn thứ ba là xây dựng (13,7%), nước cũng có quy mô rất nhỏ. Năm lĩnh vực giao thông và vận tải chiếm tỷ 2014, có tới một nửa số doanh nghiệp trọng khoảng 5% trong thời gian 2002 - ngoài nhà nước có quy vốn bình quân 2014. Mặc dù tổng số lượng doanh dưới 5 tỷ đồng và chỉ 6% có số vốn nghiệp tăng nhanh nhưng số lượng bình quân trên 50 tỷ đồng. Trong khi đó doanh nghiệp trong lĩnh vực nông 62
  4. TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 10 - 2018 ISSN 2354-1482 nghiệp gần như không đổi. Do đó, tỷ suất của khu vực nhà nước theo giá so trọng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh sánh 2010 mới bằng 52,4% năng suất vực nông nghiệp đã giảm mạnh từ 5,4% lao động khu vực có vốn đầu tư nước năm 2002 xuống còn khoảng 1% vào ngoài, thì đến năm 2015 tỷ lệ này tăng năm 2014. lên bằng 73%; tương tự, năng suất lao Đối với các hộ kinh doanh cá thể động khu vực ngoài nhà nước từ 9,8% phi nông nghiệp, các hộ này chủ yếu lên 12,8%. hoạt động trong khu vực thương mại và Có một điểm đáng lưu ý là mặc dù dịch vụ (81%) và phần còn lại (19%) có mức năng suất lao động thấp nhất hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp nhưng khu vực kinh tế tư nhân lại có và xây dựng. tốc độ tăng trưởng năng suất lao động 2.4. Hiệu quả hoạt động chưa cao, ổn định theo xu hướng tăng dần trong năng suất lao động thấp nhưng có vòng 10 năm qua. Ngược lại, khu vực tiềm năng đạt được hiệu quả cao hơn kinh tế FDI có tốc độ tăng trưởng năng nếu đạt được quy mô hợp lý và có suất lao động đạt mức thấp và tương đối được môi trường hoạt động và kinh thất thường. Bên cạnh đó, tăng trưởng doanh phù hợp, thuận lợi năng suất lao động của khu vực kinh tế Tính toán từ số liệu của Tổng cục nhà nước lại có xu hướng giảm mạnh từ Thống kê [6] cho thấy năng suất lao 7% năm 2006 xuống 2,1% năm 2014 và động của khu vực kinh tế tư nhân (bao tăng lên 10,5 năm 2015. Năng suất lao gồm cả doanh nghiệp và hộ cá thể) đạt động của khu vực kinh tế nhà nước tăng mức thấp nhất so với các khu vực kinh lên trong năm 2015 là do quá trình sắp tế khác. Cụ thể, trong các khu vực kinh xếp cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tế, năng suất lao động của các doanh được đẩy mạnh và thực hiện tinh giảm nghiệp FDI luôn dẫn đầu, năm 2015 đạt biên chế trong các cơ quan hành chính 242,5 triệu đồng (theo giá hiện hành), sự nghiệp [6]. gấp 1,36 lần khu vực kinh tế nhà nước Kết quả tính toán của nhóm nghiên (176,9 triệu đồng) và 7,8 lần khu vực cứu cũng cho thấy năng suất lao động kinh tế tư nhân (31,3 triệu đồng). Tuy của các doanh nghiệp ngoài nhà nước nhiên xu hướng tăng năng suất lao động thấp nhất trong khu vực doanh nghiệp của các khu vực kinh tế trong thời kỳ năm 2014, chỉ đạt 168 triệu đồng, so với 2005 - 2015 cho thấy, khoảng cách về 317 triệu đồng của các doanh nghiệp năng suất lao động giữa khu vực nhà FDI và 732 triệu đồng của doanh nghiệp nước và kinh tế tư nhân với khu vực có ngoài nhà nước. Tuy nhiên trong thời vốn đầu tư nước ngoài đang dần thu hẹp gian từ 2001 - 2015, năng suất lao động lại nhưng chậm hơn đối với khu vực của các doanh nghiệp ngoài nhà nước đã kinh tế tư nhân. Cụ thể, năm 2005, năng gia tăng đáng kể (5,6 lần), tăng cao hơn 63
  5. TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 10 - 2018 ISSN 2354-1482 so với các doanh nghiệp FDI (3,1 lần) kỹ thuật công nghệ. Điều đó cũng dễ lý nhưng thấp hơn so với các doanh nghiệp giải bởi vốn bình quân 1 doanh nghiệp nhà nước (10,4 lần). Do vậy khoảng ngoài nhà nước năm 2014 chỉ là 26 tỷ cách về năng suất lao động giữa doanh đồng, quá thấp, không đủ khả năng đầu nghiệp ngoài nhà nước được thu hẹp lại tư đổi mới kỹ thuật công nghệ [5]. với các doanh nghiệp FDI nhưng gia 2.6. Có đóng góp lớn cho nền kinh tăng so với các doanh nghiệp nhà nước tế về tạo việc làm, về ngân sách Nhà trong thời gian nói trên. nước, về tăng trưởng kinh tế và góp Số liệu tính toán mới nhất từ tổng phần xóa đói, giảm nghèo nhưng chưa điều tra doanh nghiệp 2014 cho thấy tỷ thực sự tương xứng với tiềm năng suất lợi nhuận trên doanh thu của các Về đóng góp về việc làm và xóa doanh nghiệp tư nhân là 1,7% năm đói, giảm nghèo, số liệu thống kê cho 2014, thấp hơn nhiều so với các doanh thấy tuyệt đại đa số lao động của Việt nghiệp nhà nước (6%); tỷ suất lợi nhuận Nam trong 15 năm qua làm việc ở khu trên vốn của các doanh nghiệp tư nhân vực kinh tế tư nhân (bao gồm các hộ là 1,2% năm 2014, cũng thấp hơn so với gia đình và doanh nghiệp ngoài nhà doanh nghiệp nhà nước (2,8%). nước). Khu vực kinh tế có vốn đầu tư 2.5. Thiếu sự liên kết giữa các nước ngoài chỉ đóng góp 4% việc làm doanh nghiệp trong nước với nhau, và khu vực kinh tế nhà nước là 10% giữa các doanh nghiệp trong nước với trong năm 2015. các doanh nghiệp FDI; khả năng hội Sự phát triển nhanh chóng của nhập quốc tế thấp (tham gia vào chuỗi doanh nghiệp ngoài nhà nước trong giá trị ở công đoạn thấp hoặc không những ngành như xây dựng, dịch vụ tham gia) và ít gắn kết với đổi mới, (bán buôn bán lẻ, sửa chữa xe, vận tải sáng tạo (trình độ công nghệ thấp, hàng hóa và hành khách, du lịch lữ thiếu đầu tư cho nghiên cứu, đổi mới hành, kinh doanh bất động sản), ngành và sáng tạo) công nghiệp chế biến thâm dụng lao Kết quả điều tra đổi mới kỹ thuật động đã đáp ứng yêu cầu cấp bách về công nghệ của 8.000 doanh nghiệp giải quyết việc làm cho một bộ phận ngành công nghiệp chế biến, chế tạo từ đông đảo lao động trẻ nông thôn không năm 2009 - 2013 cho thấy chỉ có 8% số có việc làm, vì những ngành này có tỷ doanh nghiệp có hoạt động nghiên cứu suất đầu tư thấp, nhưng lại thu hút nhiều đầu tư đổi mới kỹ thuật công nghệ, lao động phổ thông không đòi hỏi tay trong đó chủ yếu từ các doanh nghiệp nghề cao [1]. Các doanh nghiệp ngoài lớn và vừa, doanh nghiệp ngoài nhà nhà nước phát triển khá nhanh ở tất cả nước chủ yếu là quy mô nhỏ, gần như các vùng và các địa phương cũng đã không có điều kiện nghiên cứu đổi mới đem lại tác động lan tỏa tích cực về mặt 64
  6. TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 10 - 2018 ISSN 2354-1482 kinh tế cũng như xã hội. kê cho thấy khu vực kinh tế tư nhân, Với số lượng trên 4,7 triệu, hộ sản bao gồm cả các doanh nghiệp và hộ xuất kinh doanh phi nông nghiệp đang kinh doanh cá thể, đóng góp khoảng hoạt động ở khắp các địa bàn xã, 40% GDP trong thời gian 15 năm qua. phường trên phạm vi toàn quốc, không Tuy nhiên phần lớn khoản đóng góp những đã huy động được nguồn nội lực này đến từ khu vực kinh tế cá thể (30%) khá lớn cho phát triển kinh tế của đất và chỉ khoảng 8%-10% GDP được đóng nước mà còn làm giúp giảm bớt sự góp bởi các doanh nghiệp nhà nước. chênh lệch về trình độ kinh tế và xã hội Điều đó cho thấy khu vực doanh nghiệp giữa các vùng, miền, các địa bàn trong ngoài nhà nước còn rất nhỏ bé. Khu vực cả nước, nhất là những nơi mà các kinh tế Nhà nước đóng góp vào GDP đã doanh nghiệp không muốn hoặc không giảm dần 10 điểm phần trăm trong thời thể đầu tư, như miền núi, hải đảo, vùng gian kể trên, trong khi đó khu vực kinh sâu, vùng xa [6]. tế FDI có đóng góp vào GDP khoảng Với trên 7,9 triệu lao động làm 18% năm 2015, tăng gần 3 điểm phần việc, hộ sản xuất kinh doanh phi nông trăm trong thời gian từ 2005 - 2015. nghiệp không chỉ tạo việc làm, tăng Bên cạnh đó, các doanh nghiệp thu nhập và xóa đói giảm nghèo trực ngoài nhà nước có đóng góp ngày càng tiếp cho chính những người sở hữu, tăng cho nguồn thu ngân sách nhà quản lý và làm việc ở khu vực này mà nước. Tỷ trọng đóng góp của các doanh còn gián tiếp cải thiện cuộc sống cho nghiệp ngoài nhà nước vào thu ngân những người có thu nhập thấp, người sách từ toàn bộ các doanh nghiệp đã nghèo ở cả khu vực thành thị và khu tăng từ 10% vào năm 2000 lên 33% vực nông thôn. Bên cạnh đó, số liệu vào năm 2014. Trong khi đó, tỷ trọng cũng cho thấy đóng góp tích cực của này của khối doanh nghiệp nhà nước đã các trang trại đối với việc làm và xóa giảm từ 50,6% xuống còn 39% trong đói giảm nghèo ở khu vực nông thôn cùng thời gian kể trên [1]. trong thời gian qua. Theo Tổng cục Tuy nhiên nghiên cứu tác động của Thống kê (2016), tính tới 1/7/2016, loại hình sở hữu đến hiệu quả kinh các trang trại đã sử dụng 134,7 nghìn doanh và việc làm của các doanh lao động làm việc thường xuyên. nghiệp ở Việt Nam dựa vào phân tích Trong đó lao động của hộ chủ trang hồi quy sử dụng bộ dữ liệu bảng về tổng trại là 75,8 nghìn người, chiếm 56,3% điều tra doanh nghiệp từ 2007 - 2014 tổng số lao động, còn lại là lao động cho thấy với quy mô vốn và lao động thuê mướn thường xuyên. tương đương với doanh nghiệp nhà Về đóng góp cho tăng trưởng kinh nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư tế và ngân sách Nhà nước, số liệu thống nước ngoài thì các doanh nghiệp ngoài 65
  7. TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 10 - 2018 ISSN 2354-1482 nhà nước không hề thua kém hơn về kinh nghiệm về phát triển kinh tế tư hiệu quả tài chính, doanh thu và tạo nhân của một số quốc gia là việc làm việc làm mà thậm chí doanh nghiệp tư cần thiết. nhân còn đạt hiệu quả cao hơn cả ở ba 3.1. Phát triển kinh tế tư nhân tại chỉ số này. Cụ thể, việc phân tích hồi nước phát triển: kinh nghiệm của quy cho thấy các doanh nghiệp ngoài Hàn Quốc nhà nước có tỷ suất lợi nhuận trên tài Có thể nói ở hầu hết các nước phát sản cao hơn các doanh nghiệp Nhà nước triển, nhất là những nước theo mô và doanh nghiệp FDI là 5,4% và 4,5%, hình phát triển kinh tế thị trường tự do và hiệu quả tạo việc làm cao hơn doanh kiểu Mỹ, hay cả những nước theo đuổi nghiệp Nhà nước là 1,6% và doanh mô hình nền kinh tế phúc lợi như nghiệp FDI là 6%. Điều đó cho thấy, những nước phương Tây, khu vực nếu khu vực doanh nghiệp này lớn kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng mạnh về quy mô thì rất có thể các trong quá trình phát triển kinh tế ở doanh nghiệp này sẽ có hiệu quả vượt những nước này. trội và đóng góp nhiều hơn nữa cho nền Sự tồn tại và phát triển của khu vực kinh tế Việt Nam. tư nhân là tất yếu, góp phần quan trọng Tóm lại, mặc dù đã có sự phát triển tạo động lực phát triển kinh tế trong không ngừng nhưng khu vực kinh tế tư nước và vươn ra nước ngoài. Kinh tế tư nhân ở Việt Nam vẫn chưa phát huy nhân là một bộ phận quan trọng cấu được hết được tiềm năng của mình để thành toàn bộ nền kinh tế. Nhiều quốc thực sự đóng vai trò là động lực quan gia phát triển mặc nhiên thừa nhận sự trọng của nền kinh tế. Nguyên nhân tồn tại của hình thức kinh tế này và tích chính dẫn đến tình trạng đó là do khu cực phát triển nó như một công cụ hiệu vực này vẫn đang phải đối mặt với quả để phát triển kinh tế. nhiều rào cản cả về tư duy lý luận lẫn Có ý kiến cho rằng các nước phát khung khổ pháp luật, điều tiết, cơ chế triển là nơi khu vực kinh tế tư nhân có chính sách và thực thi cơ chế chính sách sức mạnh khổng lồ và ưu thế tuyệt đối. trên thực tế cũng như môi trường kinh Trong số các nước này, một trường hợp doanh và năng lực nội tại của chính khu rất đáng để tham khảo đó là phát triển vực này. kinh tế tư nhân tại Hàn Quốc. Đây là 3. Kinh nghiệm phát triển kinh tế một quốc gia Đông Bắc Á đã tạo nên sự tư nhân của một số nước thần kỳ ở châu Á, từ một nước bị tàn Với vai trò ngày càng quan trọng phá và chia cắt sau chiến tranh đã vươn của kinh tế tư nhân, nhằm khắc phục lên ngang hàng với các nước phát triển những tồn tại, yếu kém của kinh tế tư trên thế giới nhờ biết nắm bắt mọi thời nhân ở Việt Nam thì việc tham khảo cơ và vận dụng chính sách linh hoạt để 66
  8. TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 10 - 2018 ISSN 2354-1482 huy động tiềm lực trong nước. Các công ngại nhưng sự đi lên này là một xu thế ty tư nhân đã được tạo điều kiện hình tất yếu. Rõ ràng việc khai thác mô hình thành và phát triển thành những tập cải cách tương tác hai chiều “từ trên đoàn xuyên quốc gia chính là động lực xuống” và “từ dưới lên”, kéo theo cho sự phục hồi này. Đến nay, khu vực những tranh luận gay gắt giữa các kinh tế tư nhân là một lực lượng thiết chuyên gia kinh tế, đóng vai trò quan yếu và tạo động lực cơ bản trong nền trọng quyết định trong tiến trình phát kinh tế Hàn Quốc. triển của thành phần kinh tế này. Theo kinh nghiệm của Hàn Quốc, Thực tế hiện nay khu vực kinh tế tư doanh nghiệp nhà nước sẽ không tham nhân Trung Quốc còn đối mặt với nhiều gia toàn bộ chuỗi giá trị mà vẫn tạo ra hạn chế về nguồn lực tài chính, con một dư chấn để cho doanh nghiệp tư người và thể chế hỗ trợ phát triển. nhân tham gia. Các doanh nghiệp tư Trong đó đáng chú ý là những hạn chế nhân hoàn toàn có thể lớn mạnh, thậm về khả năng tiếp cận thị trường và cạnh chí lấn át khu vực kinh tế nhà nước là tranh lành mạnh để thành phần kinh tế chuyện rất bình thường bởi mục tiêu tư nhân được đứng trên một sân chơi không phải là vai trò của nhà nước luôn bình đẳng với những thành phần kinh tế luôn sở hữu và đứng đầu ngành. Nhiều khác. Trước tình hình này, Hội đồng tập đoàn kinh tế tư nhân Hàn Quốc đã nhà nước Trung Quốc đã đưa ra một số phát triển thành các tập đoàn xuyên quốc ý kiến nhằm khuyến khích, hỗ trợ và gia, có vai trò ảnh hưởng dẫn đầu thị thúc đẩy sự phát triển của các thành trường thế giới trong lĩnh vực của họ xét phần kinh tế cá thể, tư nhân và ngoài về chất lượng và số lượng tăng trưởng nhà nước. Những khuyến nghị này tập trong những năm gần đây. Hiện nay, khu trung vào bảy lĩnh vực chính: nới lỏng vực tư nhân giữ vai trò nòng cốt trong những hạn chế tiếp cận thị trường đối phát triển công nghệ và đóng góp vào với khu vực ngoài nhà nước; cải thiện doanh thu xuất khẩu của cả nước. các dịch vụ xã hội, bảo vệ quyền và lợi 3.2. Kinh nghiệm phát triển kinh ích hợp pháp của doanh nghiệp và tế tư nhân của Trung Quốc người lao động thuộc khu vực tư nhân; Nhờ chính sách cải cách và mở cửa, tích cực đưa ra những hướng dẫn và các khu vực tư nhân Trung Quốc đã phát chính sách khuyến khích khu vực này. triển rất mạnh trong 40 năm qua, từ chỗ 4. Một vài ý kiến và giải pháp bị hạn chế hay thậm chí cấm phát triển phát triển kinh tế tư nhân trong thời trở thành một yếu tố cấu thành quan gian tới trọng của nền kinh tế thị trường. Dù tiến Để cụ thể hóa và thực hiện mục tiêu trình phát triển nhanh chóng của khu phát triển kinh tế tư nhân trở thành một vực tư nhân đã vấp phải rất nhiều trở động lực quan trọng của nền kinh tế thị 67
  9. TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 10 - 2018 ISSN 2354-1482 trường định hướng xã hội chủ nghĩa triển mạnh lực lượng doanh nghiệp theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII trong nông nghiệp và ở nông thôn. của Đảng và Nghị quyết số 10-NQ/TW Doanh nghiệp tư nhân hoạt động trong ngày 3/6/2017, chúng ta cần: lĩnh vực nông nghiệp còn rất ít. Trong 4.1. Tiếp tục đổi mới tư duy, nâng khi đó, nhiều chính sách “cởi trói” giúp cao nhận thức về phát triển kinh tế tư nông nghiệp, nông thôn phát triển trong nhân, để kinh tế tư nhân “là một động thời kỳ sau đổi mới đã tới giới hạn. Mô lực quan trọng” góp phần phát triển hình kinh tế hộ truyền thống tồn tại lâu kinh tế thị trường định hướng xã hội nay ở nông thôn không còn phù hợp với chủ nghĩa ở nước ta điều kiện mới; yêu cầu tích tụ, tập trung Nhà nước với các nguồn lực, công ruộng đất đang được đặt ra cho việc cụ, chính sách sẽ đóng vai trò chủ đạo triển khai những mô hình hiện đại như trong việc định hướng và điều tiết nền kinh tế trang trại quy mô lớn. kinh tế, bảo đảm các cân đối lớn cho Đặc biệt, cần chú trọng vai trò của nền kinh tế, kiểm soát các nguồn tài công nghệ, nhất là công nghệ thông tin, nguyên chiến lược, phát triển kết cấu hạ công nghệ xanh và công nghệ sạch trong tầng và dịch vụ công có vốn đầu tư lớn, việc nâng cao chất lượng và giá trị của luân chuyển chậm, lợi nhuận không các sản phẩm nông nghiệp. Phát triển cao, rất cần thiết cho nền kinh tế - xã nguồn nhân lực cho đổi mới sáng tạo và hội mà khu vực tư nhân không sẵn sàng khởi nghiệp. Cần đổi mới căn bản hệ đảm nhận; các lĩnh vực quốc phòng - an thống giáo dục và đào tạo, trong đó gắn ninh, một số hoạt động đầu tư mạo giáo dục - đào tạo với hoạt động thực hiểm Mở rộng thị trường kinh doanh tiễn, đề cao tinh thần làm chủ, thúc đẩy ra quốc tế. Các doanh nghiệp tư nhân văn hóa khởi nghiệp. Cần tạo dựng văn phần lớn vẫn hoạt động ở thị trường hóa sáng tạo và tinh thần khởi nghiệp trong nước, chỉ rất ít doanh nghiệp lớn cho giới trẻ ngay từ khi còn ngồi trên vươn được ra thị trường nước ngoài ở ghế nhà trường, hình thành ý chí tự thân một mức độ khiêm tốn. lập nghiệp để sẵn sàng cho tương lai. Ngay cả ở thị trường trong nước, Cần giảm thiểu sự “lấn sân” của các dưới sức ép cạnh tranh gay gắt các doanh nghiệp nhà nước đối với khu vực doanh nghiệp tư nhân lớn cũng bắt đầu tư nhân đồng thời có chính sách tăng có xu hướng rút khỏi các ngành sản cường phát triển khối doanh nghiệp tư xuất công nghiệp, nhường lại sân chơi nhân theo cả chiều dọc và chiều ngang cho các doanh nghiệp nước ngoài. Vì để vừa giải quyết những cản trở chung vậy cần có thêm nhiều chính sách hỗ đối với nền kinh tế vừa tạo nên những trợ, khuyến khích và giúp đỡ cho các đột phá trong phát triển năng lực cạnh doanh nghiệp có thể vươn xa hơn. Phát tranh của doanh nghiệp. 68
  10. TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 10 - 2018 ISSN 2354-1482 4.2. Xóa sự phân biệt đối xử giữa phát huy thế mạnh và tiềm năng của doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân kinh tế tư nhân. Hỗ trợ kinh tế tư nhân với loại hình doanh nghiệp khác đổi mới sáng tạo, hiện đại hóa công Đề cập đến Nghị quyết 35 của nghệ và phát triển nguồn nhân lực, nâng Chính phủ, chúng ta có thể thấy rõ, cao năng suất lao động. Thực hiện giải Nghị quyết nêu rõ doanh nghiệp có pháp này chính là phải khuyến khích, quyền tự do kinh doanh những ngành tạo mọi cơ hội cho doanh nghiệp tư mà pháp luật không cấm và được bảo nhân tiếp cận và ứng dụng công nghệ đảm bình đẳng trong đầu tư, tiếp cận tiên tiến trong sản xuất, kinh doanh. các nguồn lực vốn, tài nguyên, đất đai. Tạo lập môi trường đầu tư, kinh Chính phủ Việt Nam khẳng định không doanh thuận lợi cho phát triển kinh tế tư hình sự hóa các quan hệ kinh tế, dân sự. nhân ở tất cả các ngành và lĩnh vực mà Vì vậy theo tôi, để bảo đảm quyền kinh pháp luật không cấm. Sự nghiệp kinh tế doanh, quyền bình đẳng tiếp cận nguồn là của toàn dân thì kinh tế tư nhân phải lực của doanh nghiệp trong thời gian là động lực chủ yếu, đảm bảo phát triển tới, Chính phủ Việt Nam nên tiếp tục bền vững, tự chủ của Việt Nam. Còn thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó vai trò của Nhà nước là tạo ra môi khăn về thuế cho doanh nghiệp nhỏ và trường, sân chơi, luật chơi, làm trọng vừa, sửa đổi, bổ sung và bãi bỏ các quy tài. Vì vậy cần phát huy và nâng cao định về cấp phép kinh doanh, xuất nhập hiệu quả hoạt động của các doanh khẩu, quản lý thị trường. Quản lý thực nghiệp nhỏ và vừa, các doanh nghiệp hiện kế hoạch phát triển. Trong đó, đổi mới sáng tạo và phong trào khởi nhấn mạnh vào những giải pháp về nghiệp. Tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi thành lập Quỹ hỗ trợ, tổ chức thực hiện để các hộ và cá nhân tự nguyện liên kết các Chương trình đổi mới công nghệ hình thành doanh nghiệp hoặc các hình quốc gia. thức tổ chức hợp tác khác. Về phía Nhà Tạo mọi khả năng để các doanh nước và đội ngũ cán bộ, công chức, cần nghiệp tư nhân dễ dàng tiếp cận với các có sự đột phá trong tư duy và hành nguồn lực phát triển như: Tài chính, đất động, kiên trì đổi mới, hoàn thiện và tổ đai, công nghệ, nhân lực. Thống nhất chức thực hiện thật tốt luật pháp, cơ nhận thức, tư tưởng, hành động trong chế, chính sách phù hợp với quy luật thị triển khai các chủ trương, chính sách về trường và thông lệ, chuẩn mực quốc tế; phát triển kinh tế tư nhân. Giải pháp này xóa bỏ mọi định kiến, rào cản; cải cách nhằm tạo ra nhận thức thống nhất trong mạnh các thủ tục hành chính rườm rà, hệ thống chính trị - xã hội về vai trò tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế tư động lực của kinh tế tư nhân, từ đó tạo nhân phát triển. mọi điều kiện phát triển kinh tế tư nhân, 69
  11. TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 10 - 2018 ISSN 2354-1482 4.3. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả vào từng ngày, nhưng cũng có khi quản lý, kiểm soát hoạt động của chúng ta phải mất cả thế hệ để xây dựng doanh nghiệp tư nhân văn hóa. Nhưng riêng về văn hóa doanh Đẩy mạnh xây dựng nâng cao văn nghiệp, tôi nghĩ rằng nếu chúng ta có hóa doanh nghiệp và đạo đức doanh được sự vào cuộc kiên quyết của Chính nhân. Hiện nay, thực trạng văn hóa Việt phủ và sự hợp tác của các cơ quan ban Nam, bên cạnh những cái tích cực thì ngành thì sẽ không mất nhiều thời gian. còn nhiều yếu tố tiêu cực. Cần phải 4.4. Khuyến khích hình thành các thường xuyên tuyên truyền, nâng cao ý tập đoàn kinh tế tư nhân đa sở hữu và thức tuân thủ, quy tắc đạo đức nghề tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh nghiệp và các chuẩn mực hành vi, ứng tế nhà nước xử trong các doanh nghiệp tư nhân, tạo Cần tạo điều kiện thuận lợi để kinh môi trường làm việc chuyên nghiệp, tế tư nhân phát triển ở tất cả các ngành hạn chế rủi ro cho đạo đức nghề nghiệp và lĩnh vực mà pháp luật không cấm. có thể phát sinh; cũng như xử lý nghiêm Theo đó, thúc đẩy phát triển mọi hình các hành vi vi phạm, gian lận (nếu có) thức liên kết sản xuất, kinh doanh, cung để răn đe, phòng ngừa chung. cấp hàng hóa, dịch vụ theo mạng sản Yếu tố con người là rất quan trọng, xuất, chuỗi giá trị thị trường giữa kinh các doanh nghiệp cần nâng cao nhận tế tư nhân với kinh tế nhà nước, kinh tế thức về tuân thủ đối với đội ngũ nhân tập thể và các doanh nghiệp có vốn đầu sự. Quan trọng là cần phải phát hiện kịp tư nước ngoài nhằm tiếp nhận, chuyển thời nhằm giảm thiểu tổn thất, thắt chặt giao, tạo sự lan tỏa rộng rãi về công việc quản lý nhân sự, tăng cường giám nghệ tiên tiến và quản trị hiện đại. sát việc tuân thủ và ứng xử phù hợp, Tập trung hỗ trợ kinh tế tư nhân đổi trong đó luôn đặt quyền lợi của khách mới, sáng tạo, hiện đại hóa công nghệ hàng lên hàng đầu. và phát triển nguồn nhân lực thông qua Hoàn thiện các quy định để quản lý, việc khuyến khích, hỗ trợ kinh tế tư kiểm soát hoạt động của các doanh nhân đầu tư vào các hoạt động nghiên nghiệp. Rà soát việc tổ chức, triển khai cứu và phát triển, chuyển giao công thực hiện các văn bản pháp luật của nghệ; kết nối doanh nghiệp, ý tưởng Trung ương và địa phương nhằm phục khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo với các vụ tốt hơn yêu cầu quản lý, đồng thời nhà đầu tư, quỹ đầu tư; thúc đẩy hình không gây khó khăn, phiền hà cho thành và phát triển các khu công nghệ người dân, doanh nghiệp. cao, các vườn ươm công nghệ cao và Người ta nói là văn hóa là cái còn các doanh nghiệp khoa học công nghệ. lại trong chúng ta sau khi ta quên đi tất Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà cả. Như vậy, văn hóa là thứ sẽ ngấm nước. Trong đó đội ngũ cán bộ, công 70
  12. TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 10 - 2018 ISSN 2354-1482 chức, cần có sự đột phá trong tư duy và vốn, rủi ro, nguồn nhân lực để hiện hành động, kiên trì đổi mới, hoàn thiện thực hóa các ý tưởng của mình liên quan và tổ chức thực hiện thật tốt luật pháp, đến công nghệ và đổi mới sáng tạo. cơ chế, chính sách phù hợp với quy luật Thay vì tạo ra những gói hỗ trợ cho thị trường và thông lệ, chuẩn mực quốc từng nhóm đối tượng doanh nghiệp, tế; xóa bỏ mọi định kiến, rào cản; cải Chính phủ cần tập trung vào việc tạo cách mạnh các thủ tục hành chính rườm môi trường kinh doanh thuận lợi, đẩy rà, tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế tư mạnh kết nối một cách công bằng để nhân phát triển các doanh nghiệp được cạnh tranh bình 4.5. Tăng cường liên kết giữa đẳng. Hình thành các khu công nghiệp, doanh nghiệp tư nhân và các loại hình khu chế xuất riêng biệt, tách biệt các doanh nghiệp khác doanh nghiệp FDI có thể giúp nâng cao Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực hiệu quả hoạt động và xuất khẩu. tiếp nước ngoài (FDI) là yếu tố quan Tập trung vào việc thực hiện đồng trọng đóng góp vào việc tạo thêm việc bộ các giải pháp để đảm bảo chính sách làm, tăng sản lượng công nghiệp và đẩy hỗ trợ kinh tế tư nhân một cách thực mạnh xuất khẩu của Việt Nam. Theo chất thông qua các chính sách hỗ trợ về tôi, để tăng cường kiên kết giữa doanh lãi suất, ưu đãi về thuế, đất đai, giải nghiệp tư nhân và doanh nghiệp FDI, phóng mặt bằng ; tăng cường năng lực các doanh nghiệp Việt Nam phải biết nghiên cứu và phát triển, đổi mới công nắm bắt thời cơ, xây dựng chí hướng nghệ và các giải pháp tài chính, tín lớn với tinh thần dám nghĩ, dám làm và dụng; thực hiện công khai minh bạch khát vọng bay cao, bay xa thì mới có các quy hoạch, kế hoạch phát triển cơ thể lớn mạnh, tham gia vào sân chơi sở hạ tầng, thúc đẩy liên kết tích cực chung với các tập đoàn trong khu vực giữa các ngành kinh tế, các chủ thể kinh và trên thế giới. tế và các không gian kinh tế. Trước mắt Việt Nam cần thúc đẩy Khắc phục triệt để tình trạng các các hoạt động phát triển công nghệ tầm doanh nghiệp lớn chi phối, lấn át các trung phù hợp với trình độ phát triển doanh nghiệp nhỏ trong việc tiếp cận hiện tại, như thiết lập các cụm liên kết các nguồn lực và cơ hội kinh tế. Hoàn ngành sản xuất linh kiện đòi hỏi quy mô thiện pháp luật về chế độ sở hữu, kể cả đầu tư vốn vừa phải và độ tinh vi công đối với bất động sản, ruộng đất để góp nghệ ở mức trung bình Việt Nam cũng phần ngăn ngừa xung đột trong xã hội, cần nắm bắt được làn sóng khởi nghiệp góp phần phân bổ nguồn lực hiệu quả, của các doanh nghiệp công nghệ và thúc khi pháp luật về sở hữu rõ ràng thì tự nó đẩy các hệ sinh thái khởi nghiệp nhằm sẽ đặt ra một trật tự có giới hạn cho các giúp các doanh nhân vượt qua rào cản về quyền của các chủ thể trong xã hội được 71
  13. TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 10 - 2018 ISSN 2354-1482 đảm bảo. Theo đó các doanh nghiệp sẽ chính trên, còn phải kể đến sự yếu kém biết trân trọng sự hợp tác và gắn kết về cơ sở hạ tầng (điện, năng lượng, đất nhiều hơn. Thực hiện triệt để cải cách đai, giao thông ). hành chính, tăng cường hiệu quả hoạt 4.7. Đào tạo, đào tạo lại, nâng cao động của các cơ quan nhà nước, bộ, chất lượng nguồn nhân lực cho khu ngành và chính quyền địa phương theo vực kinh tế tư nhân hướng tạo điều kiện thuận lợi cho phát Chất lượng giáo dục luôn là vấn đề triển kinh tế tư nhân. cốt lõi, là yếu tố sống còn của từng cơ 4.6. Thúc đẩy doanh nghiệp tư sở giáo dục, cũng như cả hệ thống giáo nhân ứng dụng khoa học công nghệ dục đại học. Khung trình độ quốc gia nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, Việt Nam có 8 bậc, bao gồm 5 bậc giáo kinh doanh dục nghề nghiệp và 3 bậc giáo dục đại Theo phân loại trình độ công nghệ học. Thực hiện khung trình độ quốc gia theo tiêu chuẩn của Tổ chức Phát triển sẽ có tác động mạnh mẽ đến nhiều bên công nghiệp Liên hiệp quốc (UNIDO) liên quan, từ các cơ quan quản lý, cho thấy, các doanh nghiệp Việt Nam người sử dụng lao động, các cơ sở đào vẫn chủ yếu thuộc nhóm công nghệ tạo, người học, hướng đến các chuẩn thấp. Trong tổng số doanh nghiệp thực mực quốc tế, góp phần làm thay đổi cơ hiện các hoạt động cải tiến công nghệ, bản chất lượng của giáo dục đại học máy móc, thiết bị trong năm 2013, 2/3 hiện nay. số doanh nghiệp đã gặp phải các trở Xây dựng tiêu chuẩn đào tạo nguồn ngại. Cũng giống như việc đổi mới nhân lực chất lượng cao, có năng lực công nghệ, trở ngại lớn nhất cho việc hành nghề chuyên môn, kỹ năng mềm, cải tiến công nghệ của doanh nghiệp là đặc biệt kỹ năng giao tiếp và làm việc hạn chế về tài chính (7,33/10 điểm). nhóm, kỷ luật đạo đức làm việc, trách Rõ ràng, vấn đề tài chính là rào cản nhiệm nghề nghiệp và trách nhiệm lao lớn nhất đối với doanh nghiệp không động. Tập trung vào việc xây dựng thể chỉ trong các hoạt động đổi mới, cải tiến chế, cơ chế, chính sách phát triển giáo công nghệ mà cả các hoạt động kinh dục nghề nghiệp phù hợp với xu thế hội doanh, nhất là đối với các doanh nghiệp nhập; hoàn thiện quy hoạch mạng lưới nhỏ và vừa. Rào cản thứ hai đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp; nâng cao doanh nghiệp khi thực hiện cải tiến chất lượng dạy nghề, tiếp cận các chuẩn công nghệ là sự thiếu vắng lực lượng khu vực và thế giới. lao động có trình độ và tay nghề. Lao 4.8. Đẩy mạnh công tác tuyên động ở Việt Nam tuy đông về số lượng, truyền, nâng cao hiệu quả công tác nhưng yếu về tay nghề, nhất là đối với Đảng, đoàn thể góp phần nâng cao các lao động kỹ thuật. Ngoài hai rào cản nhận thức của các doanh nghiệp, 72
  14. TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 10 - 2018 ISSN 2354-1482 doanh nhân trong việc thực hiện Nghị quy mô lớn, hoạt động đa ngành, có khả quyết 10 về phát triển kinh tế tư nhân năng cạnh tranh trên thị trường trong Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: nước và quốc tế. “Tuyên truyền là đem một việc gì đó Nhìn chung, hoạt động báo chí, nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, xuất bản, phát thanh, truyền hình từng dân làm. Nếu không đạt mục đích đó, là bước đi vào nề nếp, thực hiện tốt công tuyên truyền thất bại”. Trong mục tiêu tác tuyên truyền chủ trương, chính sách xây dựng và phát triển kinh tế tư nhân, của Đảng, Nhà nước, phản ánh kịp thời công tác tuyên truyền vận động giữ vai các sự kiện quan trọng diễn ra tại doanh trò hết sức quan trọng trong trong nền nghiệp. Hiện nay, theo thống kê của kinh tế thị trường định hướng xã hội Cục Thương mại điện tử và Công nghệ chủ nghĩa và hội nhập quốc tế ngày thông tin - Bộ Công thương, tỷ lệ dân càng rõ hơn. Mục đích là nhằm truyền số Việt Nam truy cập internet lên đến bá những tri thức, giá trị tinh thần, tư 34 triệu người (trong trên 90 triệu tưởng đến đối tượng, biến những kiến người) chiếm 36% (2013). Trong số đó, thức, giá trị tinh thần đó thành nhận có khoảng hơn 90% dùng internet để thức, niềm tin, tình cảm của đối tượng, đọc tin tức trên các báo, tạp chí online. thôi thúc đối tượng hành động theo Vì thế quảng cáo báo mạng điện tử những định hướng, những mục tiêu do ngày càng phát triển, các doanh nghiệp, chủ thể tuyên truyền đặt ra. công ty tìm đến dịch vụ quảng cáo này Tuy nhiên cũng cần đổi mới và đa ngày càng đông. Quảng cáo trên báo dạng hóa các hình thức tuyên truyền, mạng điện tử là hình thức quảng cáo vận động đối với doanh nghiệp và phù hiệu quả, độ phủ thương hiệu tốt vì các hợp với từng loại hình doanh nghiệp. trang báo mạng, tạp chí mạng hiện nay Chú trọng những hình thức tuyên truyền có lượng người đọc rất đông, chiếm thị vận động phù hợp, có ảnh hưởng sâu phần tuyệt đối và áp đảo so với các loại sắc. Có thể thấy rằng nhờ vào việc hình báo chí và quảng cáo truyền thống tuyên truyền, kinh tế tư nhân đã phát khác. Tuy nhiên các doanh nghiệp cũng triển trên nhiều phương diện, được tự không nên quá phụ thuộc vào báo chí để do kinh doanh và đối xử bình đẳng hơn đánh bóng tên tuổi của mình hay doanh với các thành phần kinh tế khác, nhất là nghiệp mà cần đem thương hiệu, uy tín, trong tiếp cận các yếu tố sản xuất và các chất lượng thật sự để đi vào lòng người. loại thị trường; hiệu quả, sức cạnh tranh Muốn nâng cao chất lượng xây dần được nâng lên; hoạt động đa dạng ở dựng tổ chức Đảng, đoàn thể ở các hầu hết các ngành, lĩnh vực và các doanh nghiệp tư nhân, trước hết phải vùng, miền; bước đầu đã hình thành nâng cao nhận thức của chủ doanh được một số tập đoàn kinh tế tư nhân có nghiệp và người lao động về vấn đề 73
  15. TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 10 - 2018 ISSN 2354-1482 này. Cần chú trọng làm tốt công tác xã hội như: tạo việc làm, xóa đói, giảm tuyên truyền về vị trí, vai trò của tổ nghèo, phát triển nguồn nhân lực chức Đảng, đoàn thể chính trị - xã hội Trong bối cảnh ngân sách nhà nước gặp trong các doanh nghiệp tư nhân cho chủ khó khăn, cùng với đó là xu hướng suy doanh nghiệp và người lao động. giảm của dòng vốn ngoại, thì những Cùng với việc quán triệt, phổ biến chính sách khuyến khích tư nhân tham quan điểm, chủ trương, chính sách của gia đầu tư là cần thiết. Đảng, Nhà nước, các địa phương đều Nền kinh tế Việt Nam hiện có nhiều xác định lấy hiệu quả hoạt động để trụ cột trong các ngành không phải vận động, thuyết phục chủ doanh doanh nghiệp nhà nước mà do doanh nghiệp và người lao động tích cực nghiệp tư nhân chi phối và đa phần làm tham gia vào tổ chức, thành lập và duy ăn hiệu quả. Một nền kinh tế muốn trì hoạt động của tổ chức đảng, đoàn chuyển sang sáng tạo thì buộc phải đạt thể chính trị - xã hội. hiệu quả cao với nhiều giá trị gia tăng, 5. Kết luận trong đó vai trò của nền kinh tế tư nhân Trong nền kinh tế thị trường định thậm chí còn mang tính quyết định. Việt hướng xã hội chủ nghĩa, việc phát triển Nam nằm trong khu vực kinh tế năng kinh tế tư nhân là một nhân tố không động ở Đông Nam Á. Nếu biết phát huy chỉ đảm bảo cho việc duy trì tốc độ tăng đầy đủ sức mạnh và khả năng sáng tạo trưởng GDP cao, tạo nguồn thu cho của khu vực tư nhân thì kinh tế Việt ngân sách nhà nước mà còn tham gia Nam sẽ có nhiều cơ hội phát triển. vào giải quyết hàng loạt những vấn đề TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Tổng cục Thống Kê (2015b), Kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2010-2014, NXB Thống kê, Hà Nội 2. Tổng Cục Thống Kê (2016a), Báo cáo kết quả điều tra sơ bộ nông thôn, nông nghiệp và thủy sản, Tổng Cục Thống kê, Hà Nội 3. Đậu Tuấn Anh (2016), “Doanh nghiệp nhỏ và vừa tư nhân Việt Nam kinh doanh trong chật vật”, Paper presented at the Diễn đành Kinh tế Việt Nam 2016, Hà Nội 4. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2014), Sách trắng về doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam, NXB Thống kê, Hà Nội 5. Tổng cục Thống Kê (2015a), Hiệu quả của các doanh nghiệp trong nước giai đoạn 2005 - 2014, NXB Thống kê, Hà Nội 6. Tổng cục Thống Kê (2016b), Năng suất lao động Việt Nam: Thực trạng và Giải pháp, Tổng cục Thống kê, Hà Nội 74
  16. TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 10 - 2018 ISSN 2354-1482 REALITY AND SOME BASIC SOLUTIONS TO DEVELOPING PRIVATE SECTOR IN VIETNAM ABSTRACT Vietnam nowadays, with a multipart, coexistence and development economy, no longer stops at the aspect of consideration to remove or prioritize any economic composition that needs to be noticed by each economic component that has its own nature, specific economic rule, based on each form of a certain property of material produced. Therefore, it is important to hold the nature of each economic component and use them in an effective way to accelerate the growth and economic development process and the opening of further integration into the international economy that helps the economy of the country is increasingly stronger. This article primarily analyzes the status of the private sector, a number of lessons learned by countries around the world and proposed a number of solutions aimed at developing private economies in the coming time. Keywords: Private sector, experience, status, solution (Received: 23/7/2018, Revised: 21/8/2018, Accepted for publication: 18/9/2018) 75