Văn học Trung Quốc - Chương II: Thơ Đường

pdf 65 trang vanle 11/06/2021 2570
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Văn học Trung Quốc - Chương II: Thơ Đường", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdfvan_hoc_trung_quoc_chuong_ii_tho_duong.pdf

Nội dung text: Văn học Trung Quốc - Chương II: Thơ Đường

  1. CHƯƠNG II: THƠ ĐƯỜNG Khái quát xã hội Trung Quốc thời Đường (620-905) Năm 581, Dương Kiên lật đổ triều đại cuối cùng của Bắc triều, tự xưng Hoàng Ðế, lập ra nhà Tuỳ, đóng đô ở Trường An, rồi kéo quân về miền Nam, tiêu diệt Nam triều, thống nhất Trung Quốc. Tuỳ Văn đế Dương Kiên ổn định xã hội, chia lại ruộng đất, mở mang thuỷ lợi, tiết kiệm Chẳng bao lâu sau, ông bị đứa con thứ hai là Dương Quảng giết chết. Dương Quảng lên ngôi xưng là Tuỳ Dưỡng đế - một tên vua hoang dâm và tàn bạo nổi tiếng, xây thành đào sông tiến hành xâm lược Ðài Loan, Triều Tiên. Nhân dân vùng lên khởi nghĩa khắp nơi. Lý Uyên một viên tướng lợi dụng cơ hội, ép vua nhường ngôi cho con và năm sau phế bỏ nhà Tuỳ, tự xưng Hoàng đế , lập ra nhà Ðường. Nhà Ðường tồn tại được ba trăm năm, như thế là khá bền vững trong lịch sử Trung Quốc. Tuy vậy, sự thịnh trị cũng chỉ là tương đối. Nhiều vụ đảo chính lớn xảy ra, tiêu biểu là vụ Võ Tắc Thiên phế truất Ðường Trung Tông rồi Tuấn Tông, tước lấy ngôi Hoàng đế , đổi quốc hiệu là nhà Chu, sau đó nhà Ðường giành lại ngai vàng. Giai đoạn Sơ Ðường kéo dài một trăm năm ( cũng gọi là Sơ - thịnh Ðường ). Nếu ở thời Tây Hán dân số trên năm chục triệu thì đến đầu Tuỳ chỉ còn hai mươi triệu ( sau gần bốn trăm năm ) ,cuối nhà Tuỳ, đầu nhà Ðường dân số chỉ còn ba triệu hộ gia đình. Cha con Lý Uyên ( Ðường Thái Tổ) và Lý Thế Dân ( Ðường Thái Tôn) là những ông vua khôn khéo, ban hành nhiều chính sách phát triển nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp với giao lưu mậu dịch quốc tế rộng rãi, tiến hành cải cách giáo dục văn hoá. Ðến năm 740, dân số lên tới 48 triệu ,các vua Ðường thực hiện chính sách bành trướng qui mô lớn. Trước hết, lấn vùng Tân cương, Tây tạng ( đặt là An Tây đô hộ phủ ) rồi đến Triều tiên ( đặt là An Ðông đô hộ phủ ), vào năm 679 chiếm cứ Việt Nam ( đặt tên "An nam đô hộ phủ "). Thời Khai Nguyên được coi là đỉnh cao thịnh trị của nhà Ðường. Các giai tầng thống trị ra sức bóc lột nhân dân, đua đòi ăn chơi. Ðường Huyền Tôn (tức là Đường Minh Hoàng) say đắm Dương Quí Phi, chính quyền trung ương dần dần bất lực. Xảy ra cuộc nổi loạn của tiết độ sứ An Lộc Sơn đánh chiếm kinh đô Lạc Dương, tiến về Trường An khiến Huyền Tôn phải bỏ chạy. Trên đường hành quân truy kích, An Lộc Sơn lại bị viên bộ tướng là Sử Tư Minh giết chết để lên ngôi. Lịch sử gọi sự biến này là "sự biến An - Sử " hoặc "loạn An - Sử " (755 - 763 ). Sau sự biến, dân số Trung Quốc chỉ còn hai mươi triệu ! Tuy vậy, quan hệ sản xuất phong kiến rạn vỡ làm nảy sinh những yếu tố kinh tế tiền tư bản chủ nghĩa. Từ năm 821 về sau gọi là thời Vãn Ðường với vua Ðường Mục Tôn. Cuộc khởi nghĩa nông dân khá lớn do Hoàng Sào và Vương Tiên Tri lãnh đạo thất bại nhưng cuộc nổi dậy này là đòn nặng nề giáng xuống chế độ phong kiến. Trong khoảng 100 năm cuối có 11 ông vua nhà Ðường lần lượt kế tiếp nhau , cuối
  2. cùng một viên tướng tên là Chu Toàn Trung kéo quân về Trường An lật đổ triều đình , xưng hoàng đế, mở ra một thời kỳ hỗn loạn mới gọi là "ngũ đại thập quốc". Tình hình Văn Học Văn học thời Ðường rất phát triển . Bên cạnh thơ, văn xuôi tự do đã bị văn biền ngẫu nổi lên áp đảo. Hai nhà văn Hàn Dũ và Liễu Tôn Nguyên ra sức cải cách văn xuôi. Truyện ngụ ngôn phát triển . Tiểu thuyết truyền kỳ vốn xa rời thực tế ngày càng chú ý phản ánh trực tiếp sinh hoạt xã hội, nhất là sinh hoạt chốn đô thị. Ngôn ngữ người kể chuyện và ngôn ngữ nhân vật đã tách ra khá rõ, các hình tượng nhân vật sinh động hơn và có cá tính hơn. Truyện nàng Thôi Oanh Oanh (còn gọi Hội chân ký ) của nhà thơ Nguyên Chẩn là tiêu biểu về đề tài tình yêu. ( Sau này, đến đời Nguyên, nhà viết kịch Vương Thực Phủ sáng tác thành vở kịch thơ Tây Sương Ký - ở Việt Nam cách đây nửa thế kỷ được dịch thành vở kịch Mái Tây ) . Biến văn là loại truyện tôn giáo được dân gian hoá ( như truyện nàng Mạnh Khương thương chồng chết vì bị bắt đi xây Vạn lý trường thành, chuyện Vương Chiêu Quân cống Hồ, chuyện Ngũ Tử Tư ) Từ : là một loại thơ kết hợp chặt chẽ với âm nhạc thời Ðường. Tuy thế, Thơ Ðường vẫn là thể loại đạt được những thành tựu rực rỡ và có quan hệ mật thiết với nhiều thể loại khác. Thơ Đường qua các giai đoạn Ðến nay, giới nghiên cứu văn học Trung Quốc đã thống kê sưu tầm được năm mươi ngàn bài thơ Ðường của hai ngàn ba trăm tác giả. Vì sao Ðường thi phát triển mãnh liệt như vậy ? Ðời Ðường, nước Trung Quốc độc lập và thống nhất sau thời gian dài bị chia cắt và lệ thuộc. Tình hình đó kích động cảm hứng sáng tạo cho nhà thơ. Ðô thị phồn vinh tạo điều kiện truyền bá văn học và cung cấp cho thơ ca nhiều đề tài phong phú. Thời kỳ Sơ - Thịnh Ðường tạo điều kiện cho thơ phát triển về bề rộng thì đến Trung - Vãn Ðường thơ càng đi sâu vào cuộc sống và có khuynh hướng hiện thực, mở đầu với Lí Bạch , lên đến đỉnh cao Ðỗ Phủ và quật lên mạnh mẽ với phong trào thơ Bạch Cư Dị. Thượng tầng kiến trúc đời Ðường cũng phát triển, kéo theo sự xung động của thơ và văn học nghệ thuật nói chung. Nhà Ðường thực hiện chế độ thi cử để bổ nhiệm các bậc quan chức. Trong các kỳ thi, môn thi bắt buộc làm thơ và giảng thơ chiếm vị trí quan trọng, do đó kích thích mở rộng đội ngũ nhà thơ, trong đó có những người xuất thân nghèo hèn.
  3. Giai cấp thống trị đời Ðường không chủ trương độc tôn Nho giáo như đời Hán. Cả ba Nho, Phật và Ðạo đều được tự do thịnh hành mặc dù có thời kỳ vua Ðại Ðường tỏ ra ưu ái đạo Phật (cử Ðường Tam Tạng đi Ấn Ðộ du học và xin bộ kinh Phật mới ) trong khi các tư tưởng Nho và Ðạo không bị khống chế. Do đó, nếp suy nghĩ của thi sĩ không cứng nhắc, chân trời kiến thức mở rộng. Ba cảm hứng chủ đạo nói trên tạo ra hàng ngàn bài thơ khác nhau và tạo ra ba phong cách độc đáo: "thánh thơ Ðỗ Phủ", "tiên thơ Lí Bạch" và " phật thơ Vương Duy". Tình trạng đó gây ra các luồng tư tưởng phức tạp trong thơ, tích cực xen lẫn tiêu cực và trong một hoàn cảnh nào đấy khó xác định bài thơ nào là tiêu cực hay tích cực . Văn hóa thời Ðường chấp nhận tình trạng chủ nghĩa đa nguyên trung cổ ). Trong khi đó, các ngành nghệ thuật ở đời Ðường cũng rất phát triển . Âm nhạc, Vũ đạo, nghệ thuật viết chữ đẹp ( thư pháp ) và hội hoạ đều có tác dụng nâng cao thẩm mỹ của nhà thơ. Ðặc biệt mối quan hệ Hội Hoạ - Thi - Ca rất mật thiết. Nhà thơ Vương Duy được coi là " Thi trung hữu hoạ - Hoạ trung hữu thi " vì ông vừa là hoạ sĩ vừa là nhà thơ. Người ta cũng còn gọi hội hoạ là " vô thanh thi " ( thơ không tiếng). Nhiều nhà thơ say mê hội hoạ và nhiều hoạ sĩ biết làm thơ .Thơ và hoạ Trung Quốc có chung một số qui luật thẩm mỹ chi phối như : " nhập thần ", " hư và thực " Mặt khác, thơ Ðường cũng tiếp thu, kế thừa cả quá trình phát triển lâu dài của thơ ca Trung Quốc (từ Kinh Thi, Nhạc Phủ, Thơ Kiến An, Sở từ , dân ca hào phóng miền Bắc , dân ca uyển chuyển phương Nam và lí luận thơ ca của các thời đại trước). Thơ Ðường cũng chia ra bốn giai đoạn Sơ - Thịnh - Trung - Vãn ( chất lượng thơ không đồng đều). Sơ Ðường là giai đoạn chuẩn bị mọi mặt cho thơ, còn mang nặng tính chất uỷ mỵ với bốn nhà thơ nổi tiếng : Vương Bột , Dương Quýnh, Lư Chiến Tân và Lạc Tân Vương. Cuộc đời họ gặp nhiều bất hạnh nhưng trong thơ vẫn có những tình cảm tích cực lành mạnh. Sau đó, Trần Tử Ngang đề xướng chủ trương khôi phục tinh thần phong nhã và đặt nền móng cho thơ hiện thực. Nhược điểm của thời kỳ này là khi viết về chiến tranh, âm hưởng chủ đạo của họ là khẳng định, ca ngợi. Thịnh Ðường là giai đoạn rực rỡ nhất của thơ, đạt đến sự thống nhất hoàn mỹ giữa nội dung và hình thức với nhiều nhà thơ lớn. Mặc dù thơ Ðường khá đa dạng phong phú, ta cũng tạm chia họ ra hai trường phái dựa trên đề tài : phái điền viên và phái biên tái. Vương Duy và Mạch Hạo Nhiên là đại biểu lớn của phái điền viên với nghệ thuật cao, đôi khi phản ánh được những nét chân thực của sinh hoạt nông thôn và vẻ đẹp của thế giới tự nhiên song nhìn chung còn xa rời cuộc sống thực (Bác Hồ có viết bài Cảm tưởng đọc Thiên gia thi : thơ xưa yêu cảnh thiên nhiên đẹp, Mây gió trăng hoa tuyết núi sông ).
  4. Phái biên tái : Hầu như nhà thơ nào cũng viết về chiến tranh, về cảnh biên cương khốc liệt, đặc biệt là miêu tả tâm trạng và đời sống của chinh phu, chinh phụ. Có người thiên về ca ngợi như Cao Thích, Sầm Tham , đa số thiên về phê phán như Vương Xương Linh , Lí Kỳ và tiêu biểu nhất là Lí Bạch với cảm quan nhạy bén đã sớm phát hiện ra dấu hiệu suy vong của nhà Ðường nấp sau vẻ phồn thịnh đương thời. Ðến thời Trung Ðường, có thể coi Ðỗ Phủ là chiếc cầu nối giữa Thịnh Ðường và Trung Ðường. Thơ ông phản ánh hiện thực xã hội một cách sâu rộng. Hiện tượng nổi bật sau này là phong trào thơ phúng dụ trữ tình của Bạch Cư Dị thể hiện sự đồng tình sâu sắc với nhân dân và phản ánh sinh động mâu thuẫn giai cấp gay gắt trong xã hội ( nổi tiếng với bài " Tì bà hành " ). Trong khi đó, một số nhà thơ vẫn sáng tác theo lối điền viên. Liễu Tôn Nguyên làm thơ ngụ ngôn rất sở trường, phản ánh nỗi khổ của dân chúng và phê phán bọn thống trị. Do bất mãn, u hoài, bực bội đôi khi ông rơi vào hư vô. Lí Hạ là nhà thơ có biệt tài xây dựng tứ thơ đọc đáo, hình ảnh kỳ lạ, từ ngữ mới mẻ. Ðến thời Vãn Ðường vẫn còn nhiều nhà thơ tài năng xuất hiện với cảm hứng Ðạo giáo, có ít nhiều tiến bộ như Tào Nghiệp, Ôn Ðình Quân , Lý Thương Ẩn và Ðỗ Mục, chia thành nhiều nhóm " lãng mạn" khác nhau. Hình thức của Thơ Đường ( Phân loại , cấu trúc , niêm luật , đối và vần ) Ngôn ngữ thơ Ðường trong sáng, tinh luyện , tiết kiệm ngôn từ ( bài ngắn nhất hai mươi chữ : ngũ ngôn tuyệt cú ). Do thế, thơ Ðường rất súc tích, cô đọng. Ít khi thơ chịu nói hết ý, và không nói trực tiếp, mà chỉ dựng lên hàng loạt mối quan hệ để cho độc giả tự suy luận, tức là " vẽ mây, nẩy trăng " ( chỉ tả đám mây, nhưng ta biết có vầng trăng bị che lấp ở phía sau ), ý ở ngoài lời, ý đến mà bút không đến, bút dừng mà ý không dừng - lời hết mà ý chưa hết Thơ Ðường luật có vẻ gò bó nhưng vẫn dung nạp nhiều thủ pháp khác nhau , sự năng động của mọi nhà thơ, đỉnh cao nhất là thủ pháp ám thị và gợi ý. Nhìn chung, thơ Ðường bị chi phối bởi ba cảm hứng chủ đạo : Cảm hứng một : Thơ u hoài về thế sự, nặng niềm ưu tư. đó là cảm hứng của nhà Nho. Cảm hứng hai : hướng về tư tưởng Ðạo giáo yêu thiên nhiên, thích xa lánh việc đời , tư tưởng Lão Trang Cảm hứng ba : hướng về Phật giáo xa lánh đời nhưng ít nhiều còn gần nhân thế Hai cảm hứng đó đều lãng mạn . Có những bài thơ lẫn lộn cả hai cảm hứng . Trong một đời thơ, thi sĩ phải nhiều lần đổi thay cảm hứng. Thông thường, thời trai trẻ " lập ngôn " bằng cảm hứng Nho giáo. Về già thì cảm hứng Ðạo giáo lại giành thế chủ đạo. Thơ Ðường thâm nhập vào đời sống người Trung Hoa bao đời nay, từ sinh hoạt bình thường đến những lễ nghi long trọng . Thơ mừng cưới, chúc thọ, chia buồn, thơ kén chồng thơ thù tạc. Có người cho rằng người Trung Hoa say mê
  5. thơ như một tôn giáo. Bởi thơ Ðường rất tinh tế, thanh nhã, không dài và không hùng mạnh, điều hoà và sinh động , với lối miêu tả "tả cảnh ngụ tình " là biện pháp phổ biến . Thơ Ðường tự nhiên thoải mái chan hoà vào đời sống tinh thần , văn hoá Việt Nam và giúp cho thơ ca cổ điển nước ta sinh ra biết bao áng thơ luật Ðường đặc sắc của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Khuyến, Hồ Xuân Hương . Cho tới ngày nay, các nhà thơ hiện đại đôi khi vẫn viết được những bài thơ luật Ðường đắc ý. Phân loại: Thơ Ðường gồm thơ cổ phong và thơ cận thể (thơ Ðường luật ) : Thơ cận thể gồm hai dạng chính là: " cách luật thất ngôn " và " cách luật ngũ ngôn " ( phân loại dựa theo số tiếng trong một câu ). Nếu phân loại theo số câu trong một bài thì có ba dạng chính : Thơ bát cú (8 câu ), thơ tuyệt cú (4 câu / tứ tuyệt) và thơ bài luật (số câu vô hạn định , gồm nhiều khổ tứ tuyệt ). Trong ba dạng trên, thất ngôn bát cú là dạng cơ bản , vì từ nó suy ra các dạng khác. 1 THƠ BÁT CÚ : Là hình thức chủ yếu với cấu trúc " thất ngôn bát cú " ( 8 câu x 7 chữ ), từ đây suy ra các dạng khác. a -Bố cục của bài thất ngôn bát cú gồm bốn phần : đề - thực - luận - kết ( hoặc : khai - thừa - chuyển - hợp ) Ðề là phần mở đầu có hai câu : Câu 1 - phá đề ( mở ý ) giới thiệu. Câu 2 - thừa đề tiếp ý để chuyển vào bài . Thực : câu ba và bốn : giải thích rõ ý của bài Luận : câu năm và sáu : phát triển rộng thêm Kết : câu bảy và tám - kết thúc ý toàn bài b - Luật Thơ Ðường luật buộc phải theo sự qui định về thanh bằng và thanh trắc trong từng câu và trong cả bài. Hệ thống luật được bắt đầu bằng âm thanh của chữ thứ hai của câu thứ nhất. Nếu chữ thứ hai là thanh bằng thì gọi bài thơ luật bằng, ví dụ bài " Ðề đô thành Nam trang " của Thôi Hộ và bài " Tiên tử tống Lưu Nguyễn xuất động " của Tào Ðường. Chữ thứ hai là thanh trắc thì gọi là bài thơ luật trắc,
  6. Ví dụ bài " Không đề" của Lý Thương Ẩn nhà thơ tình yêu nổi tiếng thời Vãn Ðường ( luật trắc ) và bài " Hoàng hạc lâu " của Thôi Hiệu ( luật bằng ) : Tương kiến thời nan biệt diệc nan Ðông Khứ niên dĩ thừa hoàng hạc khứ Thử địa phong vô lực bách hoa tàn Xuân tàm không du hoàng hạc lâu Hoàng hạc nhất đáo tử ty phương tận Lạp cự thành hôi khứ bất phục phản Bạch vân thiên tải lệ thủy can Hiểu kính đãn sầu vân mấn không du du Tình xuyên lịch lịch Hán cải Dạ ngâm ưng giác nguyệt quang dương thụ Phương thảo thê thê Anh vũ hàn Bồng Lai thử khứ vô đa lộ Thanh châu Nhật mộ hương quan hà xứ thị Yên điểu ân cần vị thám khan ba giang thượng sử nhân sầu (Khương Hữu Dụng và Tương Như dịch) Luật của bài thơ xác định rõ âm hưởng chủ đạo của toàn bài, giống như "gam" của một bài hát, bản nhạc hiện đại Ngoài ra, mỗi tiếng là một âm thanh được qui định sắp xếp sao cho câu thơ không đơn điệu ( xem công thức dưới đây ). Ví dụ : Công thức luật và niêm của một bài thơ Bài thơ luật bằng vần bằng Bài thơ luật trắc vần bằng: 1. b b t t t b b 1. t t b b t t b 2. t t b b t t b 2. b b t t t b b 3. t t b b b t t 3. b b t t b b t 4. b b t t t b b 4. t t b b t t b 5. b b t t b b t 5. t t b b b t t 6. t t b b t t b 6. b b t t t b b 7. t t b b b t t 7. b b t t b b t 8. b b t t t b b 8. t t b b t t b Nếu cắt bớt hai tiếng đầu mỗi câu của bài thất ngôn bát cú thì sẽ sinh ra thể ngũ ngôn bát cú. Lưu ý : Ðối với thơ thất ngôn cần chú ý qui tắc sau : Nhất - tam - ngũ bất luận, nhị - tứ - lục phân minh . Với ngũ ngôn thì " nhất - tam bất luận và nhị - tứ phân minh". Liên : Mỗi cặp câu đi liền nhau gọi là một" liên ", các chữ tương ứng của câu số lẻ và câu số chẵn trong một "liên" phải có thanh ngược nhau ( ngoại trừ chữ thứ 5 và chữ thứ 7 của liên đầu). Liên có vai trò ràng buộc chiều dài của bài thơ khỏi xộc xệch . c - Niêm Ðể cho bài thơ uyển chuyển, nhịp đi của "liên trên " phải khác nhịp đi của " liên dưới ". Muốn vậy, chữ thứ hai của câu chẵn thuộc " liên trên " phải cùng thanh với chữ thứ hai của câu lẻ thuộc " liên dưới ". Sự giống nhau đó gọi là Niêm - tức là sự kết dính hai liên với nhau. Trong thực tế sáng tác, ít có người theo đúng hoàn toàn công thức trên, do đó sinh ra lệ " bất luận " như sau ( tức ngoại lệ) .
  7. • Chữ đầu mỗi câu là bất luận ( bằng hoặc trắc tuỳ ý) . • Chữ thứ năm nói chung ngược với chữ thứ bảy, song cũng có thể bất luận. • Riêng chữ thứ ba nếu là "bằng " thì không nên đổi ra trắc ( chỉ có thể đổi trắc ra bằng ), nhất là ở các câu có vần ( câu 1, 2, 4, 6, 8 ). d - Cách đối Hai câu thực đối với nhau và hai câu luận đối với nhau. ( Câu ba đối bốn, câu năm đối sáu ). Ba yếu tố : đối thanh , đối ý và đối từ loại . Ví dụ : Bài " Không đề " của Lý Thương Ẩn Câu ba : Con tằm đến thác tơ con vướng Câu bốn : Chiếc nến chưa tàn lệ vẫn sa Tằm - nến : bằng - trắc, danh từ - danh từ. Vướng - sa : trắc - bằng, danh từ - danh từ. Thác - tàn : trắc - bằng ,động từ - động từ. Câu năm : sáng ngắm gương đối với Câu sáu : đêm ngâm thơ Chú ý : Ðối ý có hai trường hợp : • ý đối lập chống lại nhau ( đối lập / phản đối ) • ý bổ sung tăng cường cho nhau. ( đối song hành ) e. Cách gieo vần: Thơ Ðường luật chỉ gieo một vần là vần bằng gọi là bình , hiếm khi gieo vần trắc . Gieo vần vào chữ cuối của câu 1, 2, 4, 6 và 8. ( ngoại lệ : riêng chữ cuối của câu 1 ngũ ngôn bát cú có thể không cần gieo vần cũng được). Trong thực tế sáng tác, các nhà thơ đời sau đã sáng tạo thêm những biệt thể mới như tiệt hạ (ý mỗi câu còn lơ lửng), yết hậu ( câu cuối còn thiếu nhiều tiếng ), thủ vĩ ngâm ( câu một giống câu tám ) v.v 2 THƠ TỨ TUYỆT Gồm hai dạng chính : Thất ngôn tứ tuyệt và ngũ ngôn tứ tuyệt. (gọi tắt : thất tuyệt và ngũ tuyệt . Tứ tuyệt ( hay là tuyệt cú ) có ý kiến cho là được sinh ra từ thể thơ bát cú. Nó cũng gồm bốn phần : đề, thực, luận, kết , mỗi phần chỉ là một câu. Từ một bài " thất ngôn bát cú ", có bốn cách chia cắt để tạo ra bốn dạng " tứ tuyệt". Dạng 1 : Gồm bốn câu đầu ( 1, 2, 3, 4 ) Dạng 2 : Gồm bốn câu cuối ( 5, 6, 7, 8 ) Dạng 3 : Gồm bốn câu giữa ( 3, 4, 5, 6 ) Dạng 4 : Gồm hai câu đầu và hai câu cuối (1, 2, 7, 8 ) Chúng ta hãy xem xét về vần và đối của bốn dạng tứ tuyệt :
  8. Dạng (1) : có ba vần, câu ba - bốn đối nhau Dạng (2) : có hai vần, câu một - hai đối nhau Dạng (3) : có hai vần, câu một - hai và ba - bốn đối nhau Dạng (4) : có ba vần, không có đối Người ta thường làm thơ tứ tuyệt dạng (4) vì dạng này không có đối. BỐN DẠNG THƠ TỨ TUYỆT CƠ BẢN : ( chọn một tiêu chí : câu đối / số câu có vần . . .) Mỗi dạng gồm vài kiểu phụ thuộc) Loại 1 - QUÂN HÀNH ( Lí Bạch ) ba vần - đối câu 3 và 4 Lựu mã tân khoa bạch ngọc an chiến bãi sa tr ường nguyệt sắc hàn thành đầu thiết cổ vang do chấn hạp lí kim đao huyết vị can Loại 2 - TƯƠNG GIANG ( hai vần câu 2 và 4 - hai cặp đối ) quân tại Tương giang đầu thiếp tại Tương giang vĩ tương tư bất tương kiến đồng ẩm tương giang thủy Loại 3 - TUYệT CÚ . ( Ðỗ Phủ) không có vần - 1 cặp đối Hai cái oanh vàng kêu liễu biếc Một Lưỡng cá hoàng li minh thúy liễu Nhất đàn cò trắng vút trời xanh Ngàn năm hàng bạch lộ thướng thanh thiên S ong tuyết núi song in sắc Muôn dặm thuyền hàm Tây Lĩnh thiên thu tuyết Môn bạc Ngô cửa rập rình Ðông Ngô vạn lí thuyền Loại 4 - Ðề CÚC HOA ( Hoàng Sào ): ba câu vần - không đối (ô) Táp táp tây phong mãn viên tài Nhị hàn Vi vút đầy vườn thổi gió tây Nhụy rầu hương lãnh điệp nan tai T ha niên ngã hương lạnh bướm khôn bay Nếu xuân nhược vi Thanh Ðế Báo dữ đào hoa năm tới ta làm chúa Truyền với hoa đào nhất xứ khai nở cả đây ( chú thích : Thanh Ðế - vị chúa loài cỏ cây ) Ðọc thêm bài " Ðề ĐÔ THÀNH NAM TRANG " của Thôi Hộ : Khứ niên kim nhật thử môn trung nhân Cửa đây năm ngoái cũng ngày này má diện, đào hoa tương ánh hồng nhân phấn hoa đào ửng đỏ hây má phấn giờ diện bất tri hà xứ khứ đào hoa y cựu đâu ? đâu vắng tá ? hoa đào còn bỡn gió tiếu đông phong xuân đây Kết luận về tứ tuyệt Khi viết tứ tuyệt , người ta thấy khó nhất là câu thứ 3 - câu này tạo đà cho câu chót xuất hiện . Câu thứ 3 dường như rẽ bước ngoặt - không nối tiếp ý của 2
  9. câu đầu - mạch thơ dường như đứt gãy . Sự đứt gãy này tạo ra câu kết bất ngờ và bừng lên xúc cảm Nhà thơ nhận thấy viết tứ tuyệt rất khó ( ô ) nhưng thơ tứ tuyệt vẫn được sáng tác . 3 THƠ BÀI LUẬT Là bài thơ gồm nhiều bài thơ tứ tuyệt hoặc thất ngôn ( thường là tứ tuyệt), số câu kéo dài vô hạn định , còn gọi là thơ đường luật trường thiên. . 4 THƠ CỔ PHONG (cổ thể). Loại này không hạn định về số câu, chữ, không gò bó niêm luật, gieo vần, do đó có nhiều khả năng biểu hiện những sắc thái tình cảm phong phú và phản ánh được những vấn đề xã hội đời sống rộng lớn. Thơ cổ phong thường áp dụng lối tự sự dài ( ví dụ : Tì Bà Hành của Bạch Cư Dị gồm 88 câu x 7 tiếng = 616 tiếng ).Thể "hành" là thể thơ tự sự, nhằm kể lại một câu chuyện , sự kiện hay một số phận nào đó. Cổ phong cũng gồm hai loại : Loại có hấp thụ thơ Ðường luật ( như Tì bà hành ) Loại hoàn toàn tự do (Thạch Hào Lại - Ðỗ Phủ , Trường tương tư của Lí Bạch ) . LƯU Ý : khi đọc thơ Ðường phải xem kĩ cả bản phiên âm Hán -Việt và phần dịch nghĩa , không nên trông cậy hoàn toàn vào bản dịch thơ . Một số tác giả tiêu biểu Nhà thơ Lý Bạch (701-763) đỉnh cao của thơ trữ tình cổ điển Lý Bạch lớn lên dưới thời thịnh vượng nhất của nhà Ðường. Cũng như nhiều nhà thơ lớn, Lý Bạch có chí tiến thủ và bao hoài bão ước mơ. Xã hội lúc này bộc lộ đầy mâu thuẫn, nhiều chính sách bị vi phạm . Sinh hoạt hủ bại của bọn quí tộc quan liêu. Sự biến An Lộc Sơn - Sử Tư Minh đã làm thiệt hại bảy mươi phần trăm dân số. Lý Bạch, tự là Thái Bạch, nguyên quán Lũng Tây ( nay là tỉnh Cam Túc ), sinh ở làng Thanh Liên, huyện Chương Minh, tỉnh Tứ Xuyên. Người ta dự đoán ông là con gia đình thương nhân nên ít chịu ảnh hưởng chi phối nặng nề của tư tưởng phong kiến chính thống. Thời nhỏ, Lý Bạch được học nhiều , tư chất lại thông minh, ngoài ra còn học kiếm . Thanh kiếm là bạn thân suốt đời, và cũng là vật ký thác lý tưởng của nhà thơ họ Lý. Mười tám tuổi, lên núi Ðới Thiên Sơn đọc sách và giao du với một số đạo sĩ ( Ðạo giáo ). Sự giao du này làm phát triển tính cách phóng khoáng vốn có, đồng thời gieo vào nhân sinh quan của Lý những yếu tố tiêu cực như tư
  10. tưởng " xuất thế ". Hai mươi tuổi, Lý đi du lịch khắp đất Thục, rồi từ giã cha mẹ, xách kiếm đi viễn du. Mười sáu năm tiếp theo, Lý Bạch đi du ngoạn nhiều nơi, thưởng lãm phong cảnh và tìm tiên học đạo, nhưng chủ yếu nhằm quảng giao tên tuổi, tìm cơ hội tham gia chính trị, lập công danh sự nghiệp. Ông tự cho mình là kẻ hùng tài, tin tưởng một ngày kia có thể nhảy lên hàng khanh tướng, đem trí tuệ giúp nhà vua bình thiên hạ, giúp cho bốn bể thanh bình. Ông thường chơi thân với những người có thanh thế, nói rõ chí nguyện mình mong họ tiến cử. Song ông đã thất vọng. Bọn chúng không thể hiểu hoài bão chính trị của ông mà có lúc còn mưu hại ông vì ghét tính ngang tàng phóng túng của Lý. Và Lý đã bước đầu hiểu được bộ mặt thật của giới quan lại đương thời. Ông lại tiếp tục giao du với một số đạo sĩ để nhờ họ tiến thân. Lúc này, Ðạo giáo rất thịnh hành, nhiều đạo sĩ và tín đồ được nhà vua tôn trọng. Năm 742, Lý Bạch được đạo sĩ Ngô Quân tiến cử lên vua Ðường Huyền Tôn. Ðược triệu về kinh , Lý phấn khởi vì sắp đạt chí nguyện. Lúc đầu, được ưu đãi. Lý viết một số bài thơ ca ngợi cảnh sinh hoạt cung đình. Nhưng Lý không chìm đắm trong xa hoa, nhục dục. Dần dần ông biết rằng nhà vua dùng ông để làm một thi nhân bồi bút mà thôi. Lý Bạch bàng hoàng vỡ mộng. Tâm tình bi phẫn, ông cùng bạn bè uống rượu ngâm thơ giải sầu. Thơ ông bắt đầu " ngông " để biểu lộ nỗi bất bình. Chưa được ba năm, ông xin vua ra khỏi triều đình. Sau đó ông viết được nhiều bài thơ có giá trị phê phán mạnh mẽ sự hoang dâm của vua chúa , sự bất tài và lộng quyền của bọn gian thần ngoại thích. Rời Trường An sang Lạc Dương, Lý gặp Ðỗ Phủ , kết bạn, rồi lại cùng nhà thơ Cao Thích đi săn bắn, ngao du ở vùng Sơn Ðông. Chia tay Ðỗ Phủ về Trường An, Lý Bạch tiếp tục đi du lịch. Tiếng tăm lừng lẫy, đến đâu Lý cũng được người tiếp đón. Tâm tư ông lúc này phức tạp hơn bao giờ hết. Xuất thế hay nhập thế, Ðạo hay Nho ? Xã hội Thịnh Ðường nay chuyển qua suy thoái, nhân dân càng thêm điêu đứng. Những vần thơ Lý nhuộm màu xuất thế xen lẫn những bài thơ chan chứa tình đời. Khi sự biến An - Sử xảy ra , ông lại hăm hở, xông vào môi trường chính trị. Khi Huyền Tôn chạy vào đất Thục, Lý Lân mời Lý Bạch ra giúp, nhưng Lý Hanh ( Ðường Túc Tôn ) vừa lên ngôi thay cha liền giết Lân, còn Lý Bạch bị kết tội mưu phản, nhờ người xin can, ông mới được giảm tội và bị đày đi Quý Châu. Ở đó một năm , Lý được ân xá. Năm 761, vì nhiệt tình chính trị và khát vọng lập công, ông xin nhập ngũ, giữa đường bị bệnh phải trở về và năm sau thì mất , để lại gần một ngàn bài thơ và một số văn xuôi khác. Câu chuyện Lý Bạch nhảy xuống sông ôm trăng mà chết có lẽ chỉ là một giai thoại của dân chúng ngưõng mộ thương tiếc ông mà thôi . Tuyệt đại bộ phận thơ Lý Bạch là lãng mạn trữ tình . Ðọc thơ ông, ta có thể dựng lại hình ảnh, tâm tư một trí thức có hoài bão, có tài năng sống giữa một chế độ chuyên chế đang từ ổn định thịnh vượng đến thời suy thoái. Ông từng tự hào : " Tài tôi có thể giúp nước, cứu đời, khí tiết tôi có thể sánh với Sào Phủ, Hứa Do. Văn tôi có thể biến đổi phong tục, trí tôi có thể hiểu mọi lẽ
  11. của trời đất và con người " . Trong bài " Phú đại bàng ", cảnh đầu và cảnh cuối đã ứng nghiệm ngay vào đời tác giả của nó : Ðại bàng một lúc lên theo gió Chín vạn dặm cao vút tận trời Dẫu khi ngừng gió sa xuống đất Chân còn lê tới tận biển khơi ( ) Giữa trời gãy cánh sức kiệt dần Hơi gió còn chuyển lay vạn thế. Người đọc có thể nhận ra cảm hứng chủ đạo của mỗi bài trong các đoạn đời khác nhau của nhà thơ. Lí Bạch sớm chịu ảnh hưởng tư tưởng Lão - Trang nên đã phê phán Nho giáo: "Ông đồ nước Lỗ học ngũ kinh Bạc đầu nhai hết từng chương cú Hỏi ông giúp đời thế nào đây ?" Ðúng như một thi sĩ lãng mạn, ông cũng mắc phải trạng thái "phân cực", chạy qua chạy lại giữa hai cực Nho và Ðạo, băn khoăn giữa xuất thế và nhập thế, giữa tiên và tục, giữa lạc quan và buồn chán ( Bài :Trên lầu Tạ thiếu , xứ Tuyên châu , tiễn biệt quan hiệu thư Thúc Vân ) : Bỏ ta ra đi là ngày hôm qua , không sao giữ lại được Làm rối loạn lòng ta là ngày hôm nay , nhiều nỗi lo phiền Trận gió dài muôn dặm đưa tiễn chim nhạn mùa thu Trước cảnh ấy , ta có thể say sưa trên lầu cao Quan hiệu thư Thúc Vân có văn chương sánh bằng văn chương của cung Bồng Lai , có cốt cách như thời Kiến An . Trong khoảng từ Hán đến Ðường ,Tiểu Tạ lại nổi lên với ý thơ trong sáng . Chúng tôi đều có hứng thú phiêu dạt , tứ thơ hùng mạnh bay cao muốn lên trời xanh , nắm vầng trăng sáng Lấy kiếm chém nước , nước lại trôi mạnh Nâng chén tiêu sầu , lại càng thêm sầu Người ta ở đời , sống chẳng như ý thì sớm mai hãy xõa tóc , bơi thuyền đi chơi . Sau cùng ông đã tìm ra cách dung hoà hai lý tưởng trên bằng lối sống độc đáo, gọi là " công thành thân thoái" - nghĩa là khi thành công thì trở về ở ẩn . "Nguyện một phen tôn thờ minh chủ khi công thành, quay trở về rừng cũ" hoặc " Công thành từ giã đời về buông câu từ đấy " Nhưng bi kịch của đời Lý Bạch chính là ở chỗ ông không thực hiện được lối sống mà ông đã tâm đắc và ký thác trong thơ. Cứ mỗi khi có dịp, ông lại hăm hở nhảy ra tham chính. Lý Bạch là nhà thơ nhạy cảm, sớm nhận ra sự suy thoái của Nhà Ðường nên đã viết ra những vần thơ có giá trị hiện thực cao. Trong thơ trữ tình, Lý Bạch chủ yếu bộc lộ trực tiếp và gián tiếp tâm tư của mình:
  12. • Ðề tài lịch sử: Các bài thơ Vịnh Sử, Hoài Cổ như: " Từ phú Khuất Nguyên còn treo cao cùng mặt trời mặt trăng Lâu đài vua Sở đã thành núi gò trơ trụi " Ðó là nhận thức của nhà thơ về thi nhân , vua chúa và lịch sử. • Ðề tài thiên nhiên miêu tả cảnh đẹp kỳ diệu và phóng túng như "thác nước Lư Sơn" "Ðường đi Thục khó " với một cánh chim, một bông hoa tuyết, và đặc biệt ánh trăng đẹp trong sáng như có hồn luôn luôn chia sẻ tâm sự với thi nhân. • Thơ ông có hình ảnh người nông dân và người lao động, ông miêu tả cảnh sống khổ sở của nhân dân do chiến tranh phi nghĩa nhà Ðường gây ra. Ðây là giá trị hiện thực của thơ Lý Bạch . Ông còn phát hiện và khắc hoạ vẻ đẹp lộng lẫy của người thợ rèn giữa đêm khuya thanh vắng ( Thu phố ca ). Ông cũng miêu tả vẻ đẹp cô thôn nữ hái sen trong bài "Khúc hát hái sen" (Thái liên khúc). • Ðề tài phản đối chiến tranh phi nghĩa • Thơ ông bộc lộ tình bạn thắm thiết , sâu sắc HOÀNG HẠC LÂU TỐNG MẠNH HẠO NHIÊN CHI QUẢNG LĂNG Cố nhân tây từ Hoàng hạc lâu Yên Bạn cũ dời chân Hoàng Hạc lâu ( từ phía tây ) hoa tam nguyệt há Dương Châu Cô Tháng ba hoa khói , xuống Dương châu Bóng phàm viễn ảnh bích không tận Duy buồm chìm lẫn trong trời biếc Chỉ thấy Trường kiến Trường Giang thiên tế lưu giang vẫn chảy mau tới tận chân trời Chú thích : quận Quảng Lăng ( còn gọi Dương Châu ) nay là huyện Giang Ðô , tỉnh Giang Tô . Hoàng hạc lâu thuộc huyện Vũ Xương tỉnh Hồ Bắc . • Hình ảnh người phụ nữ được Lý Bạch miêu tả khá nhiều (Xuân Tứ, Ô dạ đề, Ðảo y thiên, Xuân oán, Trường tương tư, Giang hạ hành đã ca ngợi cả ngoại hình và phẩm chất của họ )ï. Tóm lại nội dung thơ ông rất phong phú, đa dạng. Ðề tài nào cũng có bài xuất sắc. Tuy có yếu tố tiêu cực nhưng toàn bộ thơ ông hướng về điều thiện, khơi dậy những tình cảm trong sáng, tình yêu cái đẹp và khát vọng chính nghĩa. Người ta thường gọi ông là nhà thơ lãng mạn vì điệu thơ phóng túng không bó buộc. Quả thật, một ngàn bài thơ mà trong đó chỉ có 70 bài ngũ luật ,12 bài thất luật, còn lại là thơ tự do. Ông có năng lực hư cấu mạnh mẽ, táo bạo. Với Lý Bạch, chân trời nghệ thuật thơ Trung Hoa đã được rộng mở. Thế giới nghệ thuật của ông thật là bao la, rộng rãi với trí tưởng tượng phong phú mạnh mẽ. Ông đã vận dụng sáng tạo những thủ pháp quen thuộc từ Kinh Thi qua Sở Từ như khoa trương, ẩn dụ, nhân cách hoá Ðặc biệt ông miêu tả thiên nhiên như người bạn tâm tình dù lặng lẽ vô tư nhưng chứa đựng đầy sức sống. Tâm hồn ông như cuốn sách khổng lồ rộng mở có thể ghi hết được khung cảnh cao rộng của cả biển trời, lại có những nét tinh tế của một nhành hoa. Tầm vóc nhân vật trữ tình của ông thật
  13. khổng lồ, phảng phất như hình tượng người khổng lồ thời Phục hưng Châu Âu sau này. Tuy thế thơ ông lại rất bình dị, tự nhiên và đượm chút dân ca. Thơ Lý Bạch có ảnh hưởng lớn đến đời sau ở Trung Quốc (xem ghi chú ở trang 149 )và cũng có ảnh hưởng khá sâu đến Việt Nam . Như tác phẩm "Chinh phụ ngâm khúc" của Ðặng Trần Côn rất gần gũi với " Xuân oán , Xuân tứ " của ông . Đỗ Phủ (712-770) đỉnh cao của thơ hiện thực cổ điển Trung quốc Ðỗ Phủ, tự là Tử Mỹ, sau còn gọi là Thiếu Lăng, quê tỉnh Hà Nam, Ông nội là một nhà thơ có tiếng thời Sơ Ðường (Ðỗ Thẩm Ngôn). Bố ông từng giữ chức Tư Mã. Hồ Chủ Tịch đã từng gọi ông là "một người làm thơ nổi tiếng đời nhà Ðường" (Di chúc). Sử sách không ghi nhiều về ông, đời sau chỉ biết cuộc đời nhà thơ lúc còn niên thiếu. Chúng ta có thể hình dung một số nét qua tác phẩm thơ của ông: Ðây là hình ảnh thời trai trẻ nghịch ngợm, hiếu động: Nhớ năm mười lăm còn thơ ngây Khoẻ như bê vàng, chạy như bay Ngoài sân tháng tám táo lê chín Một ngày ngàn lần trèo lên cây Ðỗ Phủ đã sáng tác từ thời niên thiếu: Bảy tuổi ý nghĩ đã thấy mạnh Mở miệng làm thơ vịnh phượng hoàng Chín tuổi đã viết được chữ lớn Văn chương đã thành phong cách riêng. Cũng giống như Lý Bạch lúc còn trẻ, Ðỗ Phủ có tính hào phóng, cương trực và sớm có hoài bão lớn "sẵn chí dong buồm vượt biển". Hai mươi tuổi, anh từ giã quê hương lên đường du lịch. 24 tuổi trở về kinh đô Lạc Dương thi tiến sĩ . Vì trái ý các quan giám khảo nên anh bị đánh rớt. Thi trượt, anh lại đi săn bắn ở nước Tề, nước Triệu (thuộc vùng Sơn Ðông, Hà Bắc, Hà Nam bây giờ) kéo dài 8, 9 năm. Sau đó lại về Lạc Dương, gặp và quen Lý Bạch. sống chung ít lâu. Ðôi bạn chia tay, Ðỗ Phủ về Trường An - thủ đô nhà Ðường sau này. Những bài thơ đầu viết về cảnh núi non , chim ưng , ngựa hồ là những bài "ngôn chí"( tức là những bài thơ bày tỏ ý chí, lí tưởng của cuộc đời mình). Ông cũng làm những bài thơ, văn tặng những người có thế lực mong họ tiến cử mình với triều đình, nhưng vô hiệu. Nhân một dịp đại lễ, Ðỗ Phủ làm ba bài phú dâng lên vua. Vua tán thưởng, ghi tên ông để về sau bổ nhiệm, nhưng bọn gian thần dấu giếm đi. Ðến năm xẩy ra sự biến An Lộc Sơn (tức là 4 năm sau -755) một đứa con trai của Ðỗ Phủ bị chết vì đói, chúng mới giao cho ông một chức quan nhỏ quản lý kho vũ khí. Trước đó, gia đình ông sa sút cực khổ về vật chất và tủi nhục về tinh thần, phải nhờ vả bạn bè và trồng cây thuốc kiếm sống. Càng ngày, ông càng hiểu rõ hiện thực đen tối, càng thông cảm nỗi khổ của nhân dân và biết rõ tội ác của giai cấp thống trị, Ðỗ Phủ càng sáng tác nhiều bài thơ nổi tiếng. Tiếc thay mảng thơ đề tặng của ông lúc đầu vừa nêu khát vọng công danh lại vừa khiêm tốn hạ mình đến mức khúm núm cầu cạnh. Tuy vậy thơ Ðỗ đã vẽ ra
  14. được cảnh nghèo khổ cơ cực của nhà nho nghèo và sự bất mãn thời cuộc và vẻ bất lực : " Giữa khoảng trời xanh chim đành rũ cánh Cá lờ đờ không chỗ giương vây " Có khi Ðỗ Phủ viết những bài thơ thảnh thơi hy vọng , thoáng chút bối rối như Tuyệt cú Lưỡng cá hoàng li minh thúy liễu Nhất Hai cái oanh vàng kêu liễu biếc Một đàn hàng bạch lộ thướng thanh thiên Song cò trắng vút trời xanh Ngàn năm tuyết núi hàm Tây Lĩnh thiên thu tuyết Môn bạc song in sắc Muôn dặm thuyền Ngô cửa Ðông Ngô vạn lí thuyền dập dềnh Bộ phận chính là những bài thơ trực tiếp lên án giai cấp thống trị và phản ánh sâu sắc đời sống cực khổ của nhân dân, đặc biệt là những tai hoạ của chiến tranh, cảnh sống bất công giữa hai giai cấp đối lập. Như các bài Lệ nhân hành, Binh xa hành, Thạch hào lại và Từ kinh đô đến huyện Phụng tiên. Cảm hứng chủ đạo của những bài đó là mỉa mai, xót xa, căm giận, u uất nhưng bề ngoài như là " ghi chép khách quan ". Từ kinh đô đến huyện Phụng Tiên là tác phẩm đặc sắc của thơ Ðỗ Phủ, vừa tự sự vừa trữ tình, miêu tả , tường thuật và dự cảm tiên đoán về xã hội . Ở đây, cái Tôi thi sĩ và cái Ta quần chúng xích lại gần nhau : Khi loạn An Lộc Sơn xảy ra quyết liệt , ông đưa gia đình về quê lánh nạn. Ông bị An Lộc Sơn bắt, giam lỏng ở Trường An, lại vượt ngục đến với vua Ðường Túc Tôn, được giữ chức giám quan. Khi nhà Ðường lấy lại Trường An, ông đưa cả nhà về đó, tiếp tục làm quan, nhưng bị vu khống và bị giáng chức. Sau 3 năm làm quan, Ðỗ Phủ từ chức. Ðem gia đình về Cam Túc, sống nghèo khổ. Lại chuyển đi nữa. Có khi phải đào khoai rừng sống qua ngày. Gia đình lại chuyển về tỉnh Tứ Xuyên. Mười năm phiêu bạt cuối cùng đầy cực khổ. Mùa đông năm 770, gia đình đang ở trên một chiếc thuyền nhỏ phiêu bạt trên dòng sông Tương, Ðỗ Phủ qua đời, để lại khoảng 1400 bài thơ. Thời kỳ cuối, thơ ông chủ yếu là thơ trữ tình . Nỗi lòng thương nhớ quê hương da diết, khi tỉnh khi mơ, lời thơ dạt dào tình cảm . Ứớc mơ mãnh liệt về một cuộc sống hoà bình hạnh phúc khiến thơ ông bớt phần ảm đạm, u tối (Thu hứng) . Nghệ thuật thơ Ðỗ Phủ là đỉnh cao của phương pháp hiện thực .Lòng yêu nước yêu dân và tinh thần phản kháng ngun ngút trong thơ. Tuy nhiên hạn chế tư tưởng của Ðỗ Phủ là lòng trung quân quá nặng, ảnh hưởng phần nào đến cảm hứng phê phán của thơ ông. Nếu xét một số giai đoạn thì thơ ông là thơ trữ tình, nếu nhìn toàn bộ thì thơ hiện thực chiếm phần lớn. Ngôn ngữ thơ Ðỗ Phủ rất điêu luyện, tinh xảo, như ông đã viết : Làm người tính thích câu văn đẹp Ðọc chẳng kinh người, chết chửa nguôi. Ông được gọi là " thánh thơ " , là " thi sử " (viết sử bằng thơ). Nguyễn Du nói về ông là "thiên cổ văn chương, thiên cổ sư". Ngay đời nhà Ðường, thơ ông đã được coi là tấm gương sáng, là ngọn cờ và còn ảnh hưởng mãi đến mai sau.
  15. Bạch Cư Dị (772-846) và thơ phúng dụ trữ tình Khác với Lí Bạch, Ðỗ Phủ chứng kiến cảnh Thịnh Ðường, cả đời ông sống gọn trong giai đoạn Trung Ðường. Lúc này , chế độ phong kiến trên đà suy thoái, địa phương cát cứ chống lại Trung ương và mặc sức bóc lột, khủng bố dân chúng. Trong triều đình mâu thuẫn gay gắt, bè phái tranh quyền. Cuộc khởi nghĩa nông dân do Hoàng Sào và Vương Tiên Chi lãnh đạo nổi lên. Về văn học, sau Ðỗ Phủ, tiếp tục nhiều nhà thơ có xu hướng tiến bộ và hiện thực, đến Bạch Cư Dị thì trở thành phong trào Tân nhạc phủ mà ông là ngọn cờ đầu. Bạch Cư Dị hiệu là Lạc Thiên, quê tỉnh Thiểm Tây , sinh trong một gia đình quan lại nhỏ ở tỉnh Hà nam. Từ bé, Bạch Cư Dị phải theo gia đình chạy loạn về tỉnh Giang Nam. Ông sớm hiểu biết về đời sống cực khổ của dân chúng. Cậu bé chăm học, chăm đọc (đến mức tay và cùi tay thành chai , lưỡi mọc mụn nhọt). Do khổ công học tập đến năm 802 thi đỗ tiến sĩ. Giai đoạn đầu sáng tác chỉ có bài Trường Hận Ca là đặc sắc (nỗi hận tình của Dương Ngọc Châu với vua Hán nhưng ám chỉ Dương Quí Phi với vua Ðường Minh Hoàng). Ông trải qua các chức vụ huyện úy : trị an và thu thuế, sau đó về triều nhận chức Hàn Lâm học sĩ , Tả thập di - gián quan. Ông đề xuất giảm thuế, ngừng bớt chiến tranh xâm lược, giải phóng bớt cung nữ .v.v. Dần dần ông bị triều đình ghét bỏ. Ông chủ động xin thôi việc để đi giữ chức quan khác. Ðây là thời kỳ sáng tác rực rỡ nhất của ông. Năm 802, mẹ mất, ông nghỉ việc , để tang ba năm và lâm vào trạng thái"bàng hoàng"(về tư tưởng) , chất tiêu cực tăng lên trong thơ. Mãn tang, ông trở lại Trường An nhận một chức quan nhỏ. Do một lần vượt quyền can vua, bị giáng chức làm TƯ MÃ ở xứ Giang Châu, nhàn rỗi đến mức"chỉ biết rửa mặt, chải đầu và tắm", chẳng có việc gì làm . Thời này, thơ ông nói chung buồn chán, có hai kiệt tác là Tỳ Bà Hành và Thư gởi Nguyên Chẩn . Ngoài sáng tác, Bạch Cư Dị còn là nhà lý luận văn học đặc sắc với tinh thần cải tạo văn học, chủ trương viết bình dị- nâng cao tính nhân dân của thơ, mạnh dạn phê phán tiền bối, đề cao tính hiện thực và chức năng xã hội của văn học. Ông là nhà thơ sáng tác nhiều nhất thời nhà Ðường, với khoảng ba ngàn bài. Tính chất thơ đa dạng phức tạp. Nếu nói phong cách Lí-Bạch là hào phóng, Ðỗ Phủ trầm uất bi tráng thì rất khó nói gọn một chữ về phong cách Bạch Cư Dị. Ông là một trong các nhà thơ Trung Quốc nổi tiếng nhất về mặt trữ tình và châm biếm, quan sát và tường thuật sắc sảo. Tạm chia bốn loại : thơ phúng dụ, thơ cảm thương , thơ nhàn thích và thơ tạp luật (tạp cảm) . Có 170 bài phúng dụ có giá trị hiện thực phê phán cao, đặt ra nhiều vấn đề xã hội nóng bỏng, tỏ ý quan tâm thiết tha đặc biệt đến số phận người phụ nữ. Bài thơ Lão bán than ( Mại than giả ) là bài phúng dụ hay nhất . Bài Lăng viên thiết nói về người cung nữ tóc bạc ở cung Thượng Dương. Còn Tỳ Bà Hành là bài thơ cảm thương tiêu biểu nhất , một trong những bài hay nhất trong văn học cổ điển Trung Quốc. Câu chuyện trong bài thơ thật đơn giản mà cảm động thấm thía. Giữa cảnh mùa thu buồn man mát, cuộc chia ly giữa nhà thơ và bạn bè ngậm ngùi. Có tiếng đàn tỳ bà văng vẳng bên sông khiến khách ( bạn của nhà thơ ) không nỡ đi, chủ (Bạch Cư Dị) không thể quay về, liền tìm hỏi người gảy đàn. Ðó là một người phụ nữ ngồi chơi đàn một mình trong một con thuyền. Họ
  16. xin nàng gảy đàn cho nghe. Bữa tiệc nối tiếp. Gảy đàn xong, nàng kể lại cuộc đời chìm nổi của mình. Xúc động trước tiếng đàn và cuộc đời cay đắng của cô gái xưa là kĩ nữ, nhà thơ cũng trút bầu tâm sự .Cảm động vì mối quan tâm của thi nhân, nàng đàn lần nữa. Tiếng đàn càng réo rắt xao động hơn. Chàng tư mã Bạch Cư Dị hứa sẽ làm bài thơ để tặng nàng đàn . Ðó là bài " Tì bà hành " . Bài thơ chủ yếu tả tiếng đàn , cảnh nàng đàn và thuật vắn tắt cuộc đời kĩ nữ. Tả cảnh chen tả tình, tự sự và trữ tình, bài thơ cóù giá trị hiện thực và tinh thần phê phán sâu sắc,ù tình nhân đạo thắm thiết với nghệ thuật cao . Ðây thực là mẫu mực của thơ tự sự cổ điển. Trong cuộc đờn ca, thính giả và kĩ nữ đồng cảm hoàn toàn. Diễn biến tâm tư theo sát cung đàn , tri âm và tri kỷ , dấy lên tậm trạng bất bình đau xót, như giải bày tâm sự. Ba lần chơi đàn được miêu tả tuyệt vời linh động. Cảm hứng nổi nên trong Tỳ Bà Hành là nỗi oán giận " tài năng bị vùi dập đố kị" - một thực tại ở đời Ðường. Nguyên tác bài thơ theo thể hành cổ phong, gọi là thất ngôn trường thiên, gồm 88 câu x bảy chữ. ( 616 tiếng) Bạch Cư Dị còn ghi thêm bài Tự (Tựa) - đề tặng người kĩ nữ ông gặp trên bến sông Tầm Dương. Bản dịch Tỳ bà hành ở Việt Nam của ông Phan Huy Thực rất đặc sắc, là mẫu mực của việc dịch thơ. Bản dịch tiếng Việt có đủ 616 tiếng theo thể song thất lục bát dân tộc (7.7.6.8.) hay gọi là lục bát gián thất. Nghiên cứu thơ Đường Những lời bình chọn lọc về thơ Đường Nhà nghiên cứu Hữu Ngọc (trong cuốn thơ Ðường song ngữ Anh - Việt) đã nói về sức sống của thơ Ðường " Thơ Ðường - những mũi tên bắn đi bay vĩnh viễn cùng thời gian đến mai sau" Dịch giả Phạm Liễu viết: "Tôi nghĩ rằng nếu triết gia cho ta biết phương pháp sống thì thi nhân cho ta được say sưa sống. Hơn nữa, trong lúc thiên hạ đua đòi vật chất quá, khoa học hiện đại quá, số người quan tâm đến cổ ngữ nếu không nói là rất hiếm, thì thử hỏi mai kia mốt nọ, chúng ta sẽ về đâu khi chúng ta cần nghiên cứu văn chương cổ điển Việt Nam ?" Lê Hữu Kiều - trong bài tựa tập thơ "Tàng Thuyết" có nhận xét: "Ðến thơ cận thể nhà Ðường thì đúc kết thể tỷ, thể hứng nằm trong tự sự, mô tả đường nét bề ngoài mà nổi lên cái thần, nói một câu có thể tỏ được trăm ý, xem kỹ lưỡng có thể biết được muôn cảnh. Nghệ thuật thơ văn đến thế thật là thần diệu". Nhà thơ Ngô Thì Sỹ ( trong Ngô gia văn phái) nhận xét về thơ Bạch Cư Dị: "Lời nói không lời nào vụn vặt, tài khéo thực chẳng khéo thực chẳngđẽo gọt nhưng không lộ, dầu là ngọc chưa mài mà chẳng hề có dấu vết ( ) chính khí thiêng của ông đã lặng lẽ giúp tôi đến tận ngày nay".
  17. Tuy Lý Vương trong bài Tựa tập thơ "Tĩnh phố thi tập" viết: " thi liệu và thi tứ của cổ nhân do hiện tượng động mà hình thành và phát triển. Thơ do động , động mà thành thơ". Thi sĩ Tản Ðà một dịch giả thơ Ðường xuất sắc ở nước ta đã nói về khổ công dịch thuật Ðường thi: " Trong khi dịch thơ Ðường, đến chỗ nào khó - mà thường là chỗ hay- thì phải dùng sức hơn, khi đó phải dùng sức tưởng tượng. Trong bài Trường Hận Ca (của Bạch Cư Dị), đến một đoạn tả cảnh (sự biến An - Sử), phải giơ chỗ bài văn đó ra , ngồi chong mắt xuống mấy câu ấy mà nhận cho ra cái quang cảnh An Lộc Sơn đem quân vào Trường An mà Ðường Minh Hoàng phải chạy"(An Nam tạp chí). Học giả Lâm Ngữ Ðường (Hoa kiều ở Mỹ ) phát biểu về nét đặc sắc của thơ Ðường: "Trong thơ Trung Hoa, điểm chúng ta thích nhất là kỹ thuật tinh thần và nguồn cảm hứng của nó" (theo sách Nhân sinh quan và thơ văn Trung Hoa). Kim Thánh Thán nhà phê bình văn học (đời Thanh) nhận xét: "Ôi luật thi đời Ðường chẳng phải chỉ là sự cấu tạo tốt đẹp của một thời mà vốn là tuyệt xướng của ngàn bậc thánh". Theo nhận xét của Trần Trọng San, Kim Thánh Thán phê bình thơ Ðường thiên về tình cảm hơn là lý trí. Trần Trọng Kim, dịch giả thơ Ðường viết: "Nói về thơ Hán văn thì có thơ Ðường là hơn cả, tình tứ tao nhã, ý nghĩa sâu xa, có thể nuôi được cái khí hạo thiên nhiên của người ta, tức là di dưỡng được cái tinh thần cao thượng và chân chính. Những bài thơ Ðường tựa như những đồ chơi làm bằng ngọc ngà, chạm trổ rất tinh xảo, trau dồi bóng bẩy, càng ngắm càng thấy đẹp, chơi bao lâu cũng không thấy chán thật là lợi cho tính tình biết bao( ) Thơ mà hay là cốt ở tình và văn. Tình sinh ra văn, văn sinh vì tình. Tình và văn dồi dào cả hai là thơ Thịnh Ðường". Thi hào Nguyễn Du đánh giá thơ Ðỗ Phủ : " Thiên cổ văn chương, thiên cổ sư " Quan huyện Lâm Tri (Truyện Kiều) khen thơ của Thuý Kiều : "Khen rằng - giá đáng Thịnh Ðường Tài này sắc ấy nghìn vàng chưa cân" Trần Trọng Kim lưu ý : "Biết rõ cái tài khí và thanh điệu của các thi nhân đời Ðường là một điều rất hệ trọng và rất có thú vị". Nhà văn, nhà báo , dịch giả Ngô Tất Tố viết: "Muốn tìm những thơ hoàn toàn xứng đáng với tiếng mỹ thuật chỉ có thơ đời Ðường ( ) thơ của đời này, về chữ và câu đã có trật tự, cách điệu và rất tinh vi, chứ không lộn xộn. Thơ Ðường phần nhiều hay về khí cốt". Doãn Kế Thiện (Khảo lược thơ cổ Trung Quốc) nhận xét:
  18. "Ðến đời Ðường, về phép thanh luật đối ngẫu càng thêm tinh mật Lời văn giản ước, ngụ ý sâu xa" Nhà thơ dịch giả Nam Trân nhận định: "Ðặc sắc nhất của thơ Ðường là nội dung cực kỳ phong phú, phản ánh rộng rãi các mặt sinh hoạt xã hội ( ). Phần đông kẻ sĩ đời Ðường đều là nhà thơ; ta còn bắt gặp tác phẩm của những người cùng khổ, những nhà sư, đạo sĩ, kỹ nữ và cả những nhà lãnh đạo các phong trào khởi nghĩa ( ví dụ Hoàng Sào ). Thơ Ðường nhờ đó trở nên phong phú chẳng những về nội dung mà cả về kỹ thuật nữa" ( Thơ Ðường NXB VH. Hà Nội 1987 tập I). Nhà phê bình văn học Hoài Thanh so sánh Lý Bạch và Ðỗ Phủ: "Thơ Lý Bạch đưa ta vào tiêu dao trên mấy tầng mây, thơ Ðỗ Phủ lại bắt ta đi sâu vào giữa tình đời cay đắng. Văn thơ Ðỗ Phủ hình như chỉ riêng tả những nỗi đau thương. Ðau thương vì thân thế mình, vì những biến cố của quốc gia và nhất là vì những nỗi đau thương của hạng cùng dân không tên tuổi" Theo ý chúng tôi, nhận xét của Hoài Thanh về Ðỗ Phủ thật là thoả đáng song rất giản đơn sơ lược về thơ Lý Bạch, chưa đánh giá được bi kịch cuộc đời Lý và sự giằng xé trong thơ ông . Học giả Nguyễn Hiến Lê so sánh hai nhà thơ trên: "Lý tả cái ảo tưởng của chính mình, Ðỗ tả cái chân tướng của xã hội" . Hồ Sỹ Hiệp nhận xét về tập thơ Thiên Gia Thi : "Cảnh bốn mùa gợi chút sầu vương. Dưới ngòi bút điêu luyện của các nhà thơ Ðường Tống, cảnh đẹp thiên nhiên hiện lên với nhiều màu vẻ khác nhau gây cho người đọc xúc cảm mãnh liệt trước cảnh sơn, thuỷ, yên, hoa, tuyết, nguyệt, phong (Tạp chí Tổ Quốc 1976). Trong chuyên luận "Âm Vang Thơ Ðường " giáo sư Lương Duy Thứ viết : "Do truyền thống gắn bó giữa thi, nhạc và hoạ , một bài thơ Ðường hay bao giờ cũng gợi lên âm thanh và đường nét, chính cái đó đã tạo nên âm vang sâu xa của thơ Ðường " . Theo chúng tôi, có thể hiểu âm vang thơ Ðường từ mấy đặc điểm sau: • Trong cách cảm nhận, thơ Ðường chú ý khám phá sự thống nhất, sự giao cảm mà trước hết là sự thống nhất giữa con người và thiên nhiên. • Trong cách cấu tứ, cái "tôi" trữ tình thường hoà lẫn trong thiên nhiên và ngoại cảnh. • Trong cách biểu hiện, ba yếu tố thi nhạc hoạ thường quấn quyện là một. Giáo sư Nguyễn Khắc Phi (Văn học Trung Quốc tập I) nhận xét: "Thơ Ðường cũng như thơ nói chung, sử dụng rộng rãi phép đảo trang và phép tĩnh lược. Kết cấu, bố cục được đặc biệt chú ý (khai - thừa -chuyển - hợp). Dĩ nhiên, bản thân những đặc điểm về cấu tứ, kết cấu, ngữ pháp nêu trên tự nó
  19. không thể tạo ra giá trị gì cả. Không thể tuyệt đối hoá, cường điệu tính năng động của những yếu tố hợp thành thơ Ðường luật như một số nhà ký hiệu học tư sản đã làm " . Không gian nghệ thuật thơ Đường Thơ Ðường là một trong những di sản quý giá của ba thế kỉ thời nhà Ðường còn giữ gìn được , hơn nữa, còn sống cùng thời hiện đại . Các nhà nghiên cứu đã sưu tập được 50.000 bài thơ của 2200 tác giả thời xa xưa ấy ( con số tương đối ) in thành bộ Toàn Ðường thi . Ðấy là chưa kể biết bao bài thơ rơi rụng trong dân gian suốt hơn ngàn năm đằng đẵng ( Thời nhà Ðường , thi nhân viết thơ gởi tặng nhau , viết lên góc bức tranh ,viết lên quạt , đề vào vạt áo , viết lên vách tường , ở quán rượu quán trọ, thơ viết lên những danh lam thắng cảnh ) Nhà thơ Lý Bạch đã nói về thi hào Khuất Nguyên nước Sở thời Chiến Quốc : Khuất Bình từ phú huyền nhật nguyệt Thơ Khuất Bình vẫn còn treo cao cùng mặt trời , mặt Sở Vương đài tạ không sơn khâu trăng Lâu đài vua Sở đã thành núi gò trơ trọi ( Giang thượng ngâm / Ngâm thơ trên sông) Ðến lượt thơ Lý Bạch và nhiều nhà thơ thời Ðường cũng còn lại mãi mãi với cuộc sống văn hóa của nhân dân Trung Hoa, với nhiều thế hệ người Việt Nam và trở thành di sản chung của nhân loại . Từ vấn đề phân loại thơ Ðường Trước đây , giới nghiên cứu văn học thường phân loại Thơ Ðường theo mấy cách sau : Cách 1 - Hai loại : Phái thơ điền viên ( cảnh sống trong thời bình ) Phái thơ biên tái ( cảnh sống thời chiến tranh ). ( Nguyễn Khắc Phi . Giáo trình VHTQ . Nxb GD . 1987 ) Cách 2 - Ba loại : Phái thơ điền viên Phái thơ biên tái Phái thơ xã hội ( Thơ Ðường bốn ngữ - ÐHTH . Tp HCM .1990 - Trần Trọng San ) Cách 3 - Bốn loại : Phái sơn thủy điền viên Phái biên tái Phái lãng mạn Phái hiện thực ( Bình luận văn học - Nxb Khánh Hòa 1992 ) Theo ý chúng tôi , ba cách phân loại trên đều có những bất cập : Cách 1 :quá đơn giản , không gợi ý về nội dung Cách 2 : loại gọi là xã hội lẫn lộn với biên tái ( cùng mang tính xã hội ) Cách 3 :thiếu nhất quán về tiêu chí phân loại . "Sơn thủy điền viên" và "biên tái" theo tiêu chí đề tài , còn "lãng mạn" và
  20. "hiện thực" lại theo tiêu chí phương pháp sáng tác và khuynh hướng tư tưởng . Cách 3 thực ra đã bao gồm 2 cách ( hai tiêu chí gộp một ) . Chúng tôi mạnh dạn tìm một lối tiếp cận khác sao cho cùng lúc cảm thụ cả cấu trúc nghệ thuật và nội dung cảm hứng của bài thơ . Theo cách này , chúng ta cần hiểu thấu ba cảm hứng chủ đạo và không gian nghệ thuật của Ðường thi . Chúng tôi thử đưa ra cách phân loại dựa theo tiêu chí cảm hứng chủ đạo. Theo đó , có thể chia thơ Ðường thành 3 loại lớn : Cảm hứng Nho giáo Cảm hứng Ðạo giáo Cảm hứng Phật giáo Theo thi pháp học hiện đại , văn chương bao giờ cũng khởi nguồn từ một quan điểm triết lý nào đó . Quan điểm này tạo ra cảm hứng chủ đạo , chi phối toàn bộ tác phẩm . Thời đại nhà Ðường , có 3 hệ tư tưởng chi phối mọi nhà thơ là Nho , Ðạo và Phật ( cũng chi phối toàn bộ đời sống tinh thần , văn hóa và nghệ thuật của người Trung Hoa ) . Trong thơ Ðường , số lượng bài thơ nho giáo chiếm lớn nhất . Cảm hứng nho giáo trong thơ rất đa dạng , đó là nỗi ưu thời mẫn thế, tình bạn , tình yêu, tình gia đình , quê nhà, ý chí tiến thủ , bổn phận , nỗi lo lắng , bất mãn , thái độ chế giễu phê phán .v.v . . . được gọi chung là tư tưởng nhập thế . Trí thức nho siõ, nhà thơ đều học đạo Nho nên họ là những người ưu thời mẫn thế hơn ai hết . (Khổng Tử khuyên nhủ người quân tử : ăn không cầu no , ngủ không kê gối mềm và thấp . Ân chỉ tạm đủ , nằm gối cao - như thế ắt phải trằn trọc , xoay trở , suy ngẫm . . . Nếu ăn no ngủ say thì còn nghĩ gì tới thiên hạ nữa ! ) . Số bài thơ theo cảm hứng Ðạo giáo và Phật giáo có ít hơn , nhà thơ chỉ làm khi rơi vào khủng hoảng tư tưởng , bế tắc trên đường đời , sự nghiệp và tìm một lối thoát cá nhân . Ba nhà thơ được coi là đại biểu cho 3 khuynh hướng đó : Ðỗ Phủ thánh thi , Lý Bạch tiên thi , Vương Duy phật thi . Mỗi cảm hứng chủ đạo tương ứng với một loại không gian thích hợp - người ta gọi đó là không gian nghệ thuật .Vậy là , chúng ta có thể bắt đầu từ việc quan sát cảnh vật ( không gian trong thơ ) rồi đi ngược lên đến ngọn nguồn - tư tưởng tình cảm của nhà thơ . Ðến không gian nghệ thuật trong thơ Ðường : Người xưa thường nhận xét về thơ Ðường : ” thi trung hữu họa “ , cảnh vật thường xuyên có mặt trong thơ . Nhưng chẳng phải tả cảnh chỉ để “ làm kiểng “ qua loa cho có , cảnh vật cần phải nói thay người .( Thơ tối kị sự lộ liễu , nhà thơ nói kín đáo . Ý thơ chìm lẫn trong cảnh vật , cùng lắm họ mới thốt lên đôi lời trực tiếp ) . Tương ứng với ba cảm hứng chủ đạo là ba loại không gian nghệ thuật : • Không gian nghệ thuật Nho giáo là những cảnh đời thế tục , có bóng dáng con người và ước vọng sống mang tính nhân văn - xã hội .Thơ Ðỗ Phủ luôn luôn quan tâm trăn trở về cảnh sống khốn khổ của dân chúng, thơ ông đúng là " sự chảy máu của tâm hồn " .
  21. • Không gian nghệ thuật Ðạo giáo là những cảnh vật biệt xa khỏi cuộc sống xã hội , phiêu diêu hướng về thiên nhiên hoang sơ , hy vọng đến được cõi Bồng Lai , chốn Thiên Thai . Nhà thơ trải lòng với thiên nhiên , tìm niềm vui thoát tục . • Không gian nghệ thuật Phật giáo hướng về cảnh khói nhang , tiếng chuông chùa đạo Phật , cảnh chùa miếu u trầm lặng lẽ . Có những nhà thơ suốt đời chạy đi chạy lại giữa hai cảm hứng nên cuộc đời họ là những bi kịch dày vò , tiêu biểu là Lí Bạch : Rút kiếm chém nước, nước càng chảy mạnh , nâng chén tiêu sầu lại càng sầu thêm . Sự phân loại cảnh vật có vẻ đơn giản như thế , nhưng trong thơ , cảnh vật còn biến đổi tùy theo cảm xúc . Tạm chia hai loại không gian : không gian thực và không gian ảo ( hoặc hiện thực và tâm tưởng ) . Thử đọc và tìm hiểu không gian bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu : Ai cưỡi hạc vàng đi mất hút ( cảnh ảo ) Trơ lầu Hoàng Hạc chốn này thôi ( cảnh thực ) Hạc vàng một đã đi , đi biệt ( cảnh ảo ) Mây trắng ngàn năm bay chơi vơi ( cảnh thực pha ảo ) Sông tạnh Hán Dương, cây sáng ửng ( cảnh thực ) Cỏ thơm Anh Vũ bãi xanh ngời ( cảnh thực ) Hoàng hôn về đó , quê đâu tá ? ( cảnh ảo ) Khói sóng trên sông não dạ người ( cảnh thực pha ảo ) Cảnh vật trong bài thơ trên đổi thay theo xúc cảm nhà thơ . Từ hy vọng gặp gỡ hạc vàng truyền thuyết để được theo về cõi Bồng Lai ( cảm hứng Ðạo giáo) đến thất vọng , nuối tiếc , ngẩn ngơ và rồi tâm trí tỉnh lại khi ngắm nhìn cảnh vật tràn đầy sức sống ở xung quanh , rốt cục nhà thơ quay nhìn hướng quê nhà - vẫn một nỗi sầu đời ( cảm hứng Nho giáo ) . Trên đây là những nét phác thảo một hướng nghiên cứu Ðường thi . Trong một đề tài nghiên cứu công phu hơn làm một tài liệu tham khảo cho sinh viên , chúng tôi sẽ khảo sát toàn bộ số bài thơ Ðường trong sách Văn phổ thông trung học theo hướng tiếp cận đã trình bày . Thời gian nghệ thuật Đường thi TỒN TẠI nghĩa là : tồn - còn (thời gian) , tại - ở tại ( không gian ) Thời gian cũng được coi là chiều thứ 4 của không gian : Thôi Hiệu nghĩ về thời gian : Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản bạch vân thiên tải không du du Người Trung Hoa sùng bái quá khứ , coi đó là vẻ đẹp hơn hiện tại và tương lai , bởi nó hiện lên qua màn sương mù huyền ảo .
  22. Trẻ con chẳng biết gì đến ý niệm thời gian . Người nhận biết được bước đi của thời gian thì rất đau khổ , lúc nào cũng tiếc . Trái lại , người hạnh phúc không chú ý đến thời gian . THƠ ÐƯỜNG có hai kiểu thời gian nghệ thuật : thời gian vũ trụ và thời gian đời thường , tương ứng với con người vũ trụ và con người đời thường . Thực ra , thời gian tâm lý đã chi phối thời gian nghệ thuật . Bên cạnh đó , quan niệm triết học và tôn giáo về thời gian cũng chi phối Thơ Ðường : Ðạo Phật : Thời gian là sự vận động vô thủy vô chung , tạo ra những vòng luân hồi liên tục không nghỉ . Mỗi chu kì gọi là một " kiếp " gồm sinh lão bệnh tử ( 4 giai đoạn ) . Kiếp trước kiếp sau và nhãn tiền / hiện sinh / hiện tồn , quan hệ giữa chúng là "nhân quả " . Thời gian đời người chỉ là khoảnh khắc trong thời gian chung . Ðạo Gia : Thời gian là trường cửu , vô thủy vô chung và gắn chặt với không gian . Con người cứ thuận theo dòng sinh hóa mà sống theo lời " dạy bảo " của thiên nhiên . Nho Gia : Ngắm dòng sông , Khổng Tử than :"Thệ giá như tư phù , bất xá trú dạ " ( cứ chảy mãi vậy thôi , chẳng kể ngày đêm ) . Nhưng theo nền văn hóa nông nghiệp , Nho gia quan niệm thời gian có sự " tuần hoàn " theo luật âm dương liên tục , vừa biến động vừa vĩnh hằng ( thường ) . Nho gia chỉ quan tâm đến chính trị , xã hội , sự thành bại được mất của triều đại . Họ cho rằng hiện tại chẳng bao giờ bằng quá khứ , lịch sử đi xuống dốc . Vậy nên cứ theo đời trước . Những quan niệm nói trên ảnh hưởng đến quan niệm thời gian trong thơ và tùy thuộc thi nhân có cảm hứng loại nào . Thi thành thảo thụ giai thiên cổ ( Bài thơ làm xong thì cây cỏ đã sống ngàn năm ) - Lí Bạch . CON NGƯỜI VŨ TRỤ LÀ CON NGƯỜI SIÊU CÁ THỂ .Nó luôn muốn đem cái " tiểu vũ trụ cô độc " của mình hòa hợp tương thông với đại vũ trụ , đó là cách làm cho giọt nước hòa vào biển cả , nhờ thế khỏi bị " khô " đi . Nếu cảm nhận không gian , con người cho mình luôn ở trung tâm thì cảm nhận thời gian con người thấy mình luôn ở giao điểm của quá khứ và tương lai . Bài thơ Ðăng U châu đài ca của Trần Tử Ngang than nỗi cô độc . Trần Tử Ngang nhà thơ Sơ Ðường viết : Tiền bất kiến cổ nhân Hậu bất kiến lai giả Niệm thiên địa chi du du Ðộc thương nhiên nhi thế hạ Nỗi cô độc của kẻ sĩ mất tọa độ , thấy mình không được quan hệ gì với không gian và thời gian . Ðó là vũ trụ do Trần thi sĩ tạo ra cho thơ Ðường .
  23. Ta không thể vừa ở chỗ này vừa chỗ khác , không thề là người này và là người khác . Cái duy nhất ấy gọi là định mệnh , số phận . Nó sợ cô đơn nên cố bấu víu vào những quan hệ khác để thoát định mệnh . Vương Bột khi đến Ðằng vương các , buột miệng : Các trung đế tử kim hà tại ? ( trong gác , con vua có còn chăng ? ) Lạc Tân Vương đến bờ sông Dịch mà viết : Thử địa biệt Yên Ðan tráng sĩ phát xung quan tích thời nhân dĩ một kim nhật thủy do hàn dịch nghĩa : (Nơi này khi từ biệt thái tử Ðan nước Yên tóc tráng sĩ dựng ngược làm nhô mũ người xưa đã khuất rồi nước sông Dịch nay còn giá lạnh ) Thôi Hộ ghi trên cánh cửa nhà thiếu nữ thôn Ðào Hoa : Nhân diện bất tri hà xứ khứ Ðào hoa y cựu tiếu đông phong và Nguyễn Gia Thiều : Trăm năm nào có gì đâu chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì . Trong thơ Ðường có rất nhiều bài thơ hoài cổ như Bạch đế hoài cổ , Tây Thi vịnh , Tây Thi thạch ,Vịnh hoài cổ tích . . . Anh hùng , tài tử đời xưa mới là đáng ca ngợi và ngưỡng vọng . . . Quê hương cũ , bạn cũ ( cố nhân ) , khóm hoa cũ ( khóm cúc hai lần nở dòng lệ cũ - Ðỗ Phủ ) mới là đáng nhớ . Ðó là cảm hứng Nho gia bảo thủ . Lý lẽ của họ là : những gì đáng ca tụng ấy đã được kiểm nghiệm rồi . Còn tương lai thì biết thế nào mà nói . Con người thích cái mới nhưng nó mơ hồ mù mịt chẳng thể hình dung , cái trong tay thì tầm thường , khi nó mất đi mới thành cũ và chừng đó sẽ tiếc nuối . . . Văn chương lãng mạn không thích cái bình thường gần gũi . Ngay Ðỗ Phủ cũng tự hào về thời trẻ : Phủ tôi lúc còn nhỏ / Sớm dự khoa thi xuân / sách đọc thấu muôn quyển / hạ bút như có thần . Hoài cổ ấy chính là xót thương cho hiện tại . Thời gian vũ trụ là quan niệm và cảm hứng chi phối con người vũ trụ . Họ cũng nghĩ xa đến cả tương lai nhưng không mấy tin tưởng . Nhưng họ phải " lập ngôn " , ấy chính là hi vọng và quyết tâm đặt vào tương lai . Họ cũng tin tưởng ở hậu thế. Họ muốn lưu danh thiên cổ , để lại cái gì cho hậu thế . Ðỗ Phủ viết về Lí Bạch : Thiên thu vạn tuế danh Tịch mịch thân hậu sự (Danh tiếng để lại ngàn vạn năm sau , chỉ là việc âm thầm sau khi qua đời - Mộng Lí Bạch ) Nguyễn Du viết " Bất tri tam bách dư niên hậu , thiên hạ hà nhân khốc Tố Như ? " Ấy là một niềm mong mỏi của nhà thơ . Ðó chính là quan niệm thẩm mĩ về cái đẹp của thời gian của thi nhân thời Ðường . THỜI GIAN ÐỜI THƯỜNG - CON NGƯỜI ÐỜI THƯỜNG
  24. Khi cuộc sống thực tại đòi hỏi người ta phải ứng xử ngay như : đói rét , chiến tranh xảy tới , bạn bè chia tay nhau .v. v . . . , thời gian gấp gáp , thời gian hiện thực . Ai còn có thời gian đâu mà chiêm nghiệm sự dài lâu . Ðó là thời gian trực cảm , sinh hoạt , đời thường . Thi nhân nào không nghĩ tới thời gian đời thường là người thỏa mãn hạnh phúc rồi . Phần nhiều nhà thơ Ðường đều có thơ hiện thực nhưng tỷ lệ không cao . Có những nhà thơ như Ðỗ Phủ thường làm thơ về " những điều trông thấy " ( thời gian hiện tại , đời thường ) vì trái tim nhân thế của ông dào dạt chảy trong nhịp đập lo đời thương thân quá đỗi . thời gian vũ trụ thời gian đời thường thiên về quá khứ thiên về tâm tưởng kỉ thiên về hiện tại hành động sự kiện rút niệm rộng mở , trường cửu nhàn nhã , ngắn hạn hẹp vội vàng gấp gáp nhiều khoan thai nhiều chất thơi cảm thấy tính kí sự cảm thấy khổ , lo âu buồn , trầm tư Hai hình tượng không gian nghệ thuật và hai kiểu con người ấy đều là thành tựu nghệ thuật của thơ cổ điển Trung Hoa , thể hiện rõ nét nhất trong Ðường Thi . VẤN ÐỀ LÃO - TRANG • Phân biệt 2 khái niệm : Triết lí Lão Trang và cảm hứng Lão Trang . Tư tưởng là Triết lý , Cảm hứng là lối sống thoát tục , phóng túng , yêu thiên nhiên . . . • Lãng mạn , phóng túng ngây thơ , nhân đạo , thuốc giảm đau an thần , phủ định hiện thực . • Xỉ mắng trí xảo , ca tụng vô tư ngây thơ , ưa đi chân đất , xõa tóc , dưỡng sinh hô hấp , luyện thuốc , tập võ nghệ tăng sức khỏe và di dưỡng tinh thần . . . Phật giáo vào Trung Hoa bị " nho hóa / đạo hóa" nhưng thiên về Ðạo hơn. Vì sao Lí Bạch gác bút trước Thôi Hiệu ở lầu Hoàng Hạc ? - vì bài thơ đã đạt cổ điển / vì trùng hợp ý và tứ rồi . Thơ phương Ðông không thể cách tân nữa vì đã ổn định , khi cần thỏa mãn nhu cầu , người ta vẫn ngâm hoặc sáng tác theo đường luật . TỨ TUYỆT TRONG TRUYỆN KIỀU Theo nguyên tác Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm , khi ở bên mộ Ðạm Tiên Kiều viết bài ngũ ngôn bát cú tặng nàng như sau : Sắc hương đâu đó tá ? Thăm viếng não nùng thay Chăn gấm trăng soi lạnh Ðài gương bụi phủ nhòa Ðất tuy vùi ngọc ấy Tuyết chưa lấp danh này
  25. Rượu nhiều như sông đó Nào ai tưới chốn đây ? Khi giã từ Ðạm Tiên , Kiều làm bài thứ hai ( Kim Vân Kiều Truyện) Gió tây đâu bỗng nổi Rào rào thật buồn thay Thảm thiết như hờn oán Thê lương dạ chẳng khuây Xe loan đi cõi khác Bóng hạc tưởng về đây Phảng phất hồn thơm đó Rêu xanh rõ dấu giầy. Nhưng thi hào Nguyễn Du lại để Thúy Kiều làm một bài tứ tuyệt tặng Ðạm Tiên : Một vùng cỏ áy bóng tà Gió hiu hiu thổi một và bông lau Rút trâm sẵn dắt mái đầu Vạch da cây vịnh bốn câu ba vần ( bài thơ ấy không được ghi trong Truyện Kiều ) Câu hỏi :- Vì sao Nguyễn Du chọn tứ tuyệt ? Ðó là loại nào ? Vì sao không viết bài thơ vào Truyện Kiều ? Cũng theo nguyên tác Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm : Ðêm hôm ấy , Kiều nằm mộng gặp Ðạm Tiên , nàng bảo Kiều cũng có tên trong hội Ðoạn Trường , xin hãy làm 10 bài thơ theo đề cho sẵn để dự hội thi thơ do Giáo chủ Ðoạn trường tổ chức . Ðó là : Tiếc đa tài , Thương mệnh bạc , Buồn lối rẽ , Nhớ người xưa, Nghĩ em xinh , Thương thanh xuân , Than lỡ bước , Khổ tan tác, Mộng vườn nhà và Khóc tương tư . 10 chủ đề nói về số phận một hồng nhan bạc mệnh, về sau ứng vào cuộc đời Thúy Kiều . Nhưng Nguyễn Du chỉ viết : Này mười bài mới mới ra Câu thần lại mượn bút hoa vẽ vời Kiều vâng lĩnh ý đề bài tay tiên một vẫy đủ mười khúc ngâm . Luyện tập thực hành 1. Những tính chất của Thơ Ðường ? 2. Phân tích , bình giảng một số bài thơ . Luyện phân tích tác phẩm : • nhận dạng ( tên thể loại , luật chính , đối . . . ) • cảm hứng chủ đạo • không gian & thời gian nghệ thuật • cấu tứ ( ý tưởng chủ đạo
  26. 1. Tập dịch bài " Quân Hành " của Lí Bạch : Lựu mã tân khoa bạch ngọc an Chiến bãi sa trường nguyệt sắc hàn Thành đầu thiết cổ vang do chấn Hạp lý kim đao huyết vị can 1. Thử dịch lại những bài đã biết nhưng thấy bản dịch chưa sát . 2. Luyện sáng tác : Làm một số bài bát cú và tứ tuyệt : Thông thường người ta làm thơ Ðường luật khi cảm xúc ( cảm hứng ) về những giá trị truyền thồng , hoặc kỷ niệm , ký ức , ấn tượng quá khứ . . . trong thế tương phản với hiện tại . Tình cảm không hạn chế , có thể buồn vui , nhớ , băn khoăn , hi vọng , hối hận , triết lí , ý chí . . . MỘT SỐ LOẠI ÐỀ BÀI SÁNG TÁC : 1. Cho một hoàn cảnh , ví dụ Tào Phi ra đề cho Tào Thực ( huynh đệ ) , cuộc thi vịnh Kiều của Lê Hoan - Nguyễn Khuyến . 2. Cho một câu đề , một phần câu đề , ví dụ Giáo chủ Hội đoạn trường ra đề , Ðạm Tiên đưa cho Thúy Kiều ( 10 bước thăng trầm của thân phận hồng nhan ) 3. Cho xướng họa ( hai kiểu song hành và đối lập ) 4. Cho vần , ví dụ làm bài thơ vần " oan " . 5. Và những kiểu khác . Đọc thêm - văn học Tống THƠ và TỪ NHÀ TỐNG có hai giai đoạn : 960 - 1127 ( Bắc Tống ) và 1271 - 1279 ( Nam Tống ) đỉnh cao của chế độ phong kiến Trung Hoa . Thủ đô là quận Khai Phong . Năm 931 nhà Tống cho quân xâm lược Việt Nam , bị thất bại nặng , tướng Hầu Nhân Bảo bị giết , nhiều tướng bị bắt sống , chúng rút quân . Năm 1075 , nhà Tống lại xua quân sang , lần này bị tướng Lí Thường Kiệt đánh đại bại , rút chạy năm 1077 . Theo sách của Lí Ðào , nhà Tống đã tiêu tốn cho cuộc xâm lược này 5 triệu lạng vàng , chết 8 vạn quân trong số 10 vạn kéo sang . Tai hại hơn nữa , địa vị nhà Tống lung lay , các bộ tộc phương Bắc tràn xuống . Khi bị lần lượt hai bộ tộc Khiết Ðan và Kim / Nữ chân tràn từ phương Bắc xuống tấn công , triều đình Bắc Tống bỏ chạy xuống phía Nam Trường Giang , gọi là Nam Tống , tồn tại thêm 152 năm . Sau đó toàn bộ đất đai rơi vào tay đế quốc Mông Nguyên . Thơ ca vẫn tiếp tục truyền thống thơ Ðường . Ðời sau thường ghép chung hai giai đoạn gọi là thơ Ðường -Tống . Không có những tác gia lớn như đời Ðường . Một số nhà thơ tiêu biểu thời Tống là Vương An Thạch , Âu Dương Tu , Lục Du , Văn Thiên Tường , Tô Thức ( còn gọi Tô Ðông Pha ) . Thời Tống còn có một thể loại văn chương mới là Từ .
  27. Từ bắt nguồn trong dân gian , đã manh nha từ thời Vãn Ðường - Ngũ đại thập quốc , nhưng đến thời Tống thì phát triển mạnh .Từ nguyên là những baì hát phổ vào những bài thơ tuyệt cú của văn nhân hoặc bài hát dân gian . Nhạc công ca sĩ cải biên lời gốc tạo ra ngắn dài xen kẽ cho hợp nhạc . Do đó Từ trở nên thể loại độc lập , âm luật nhất định .Tư tưởng của Từ là " tạp" , bao gồm cả Nho Phật và Ðạo ( Lão ) . Tô Ðông Pha là nhà thơ , nhà từ và văn xuôi nổi tiếng nhất thời Tống . Thơ từ Tô Thức phóng khoáng tài hoa , vừa hiện thực vừa trữ tình " như suối nguồn thác lũ . . . " như chính ông tự nhận xét . Về thơ cổ điển , ông được xếp sau Lí - Ðỗ -Bạch và Ðào Tiềm .Cuộc đời Tô Ðông Pha gian nan như Bạch Cư Dị , - Ðỗ -Bạch và Ðào Tiềm .Cuộc đời Tô Ðông Pha gian nan như Bạch Cư Dị , " Hoa Hải Ðường": Phe phẩy màu xuân ngọn gió đông Bên thềm sương ngát ánh trăng lồng Canh khuya những sợ rồi hoa ngủ Khêu ngọn đèn cao ngắm vẻ hồng " Ðêm Xuân " : Ðêm xuân một khắc đáng ngàn vàng Bóng nguyệt êm đềm hoa thoảng hương Trên gác đàn ca nghe văng vẳng Sân đu lặng lẽ suốt canh trường " Sau Cơn Mưa Tạnh , Uống Rượu Trên Hồ " : Dưới nắng long lanh màu nước biếc trong mây phảng phất vẻ non tươi Tây Hồ khá sánh cùng Tây Tử Lộng lẫy đơn sơ thảy tuyệt vời . ( Chú thích : Tây Tử là nàng Tây Thi thời Chiến Quốc ) . Bài thơ Tây Hồ sau cơn mưa : Mây đen trút mực chưa nhòa núi Mưa trắng reo châu nhảy rộn thuyền Trận gió bỗng đâu lôi cuốn sạch Dưới lầu nước gợn sóng thanh thiên . Tô Thức là người mở rộng thể loại Từ , lấy thơ làm Từ , như các bài : Thủy điệu ca đầu , Minh nguyệt kĩ thời hữu nổi tiếng , lại còn Niệm nô kiều , Ðại giang đông khứ làm khi bị biếm đi Hàng Châu . Ông còn viết những bài ký , tùy bút đáng chú ý như Siêu nhiên ký , Phóng hạc đình kí , Thạch chung sơn vị , Hí vũ đình ký được coi là bài văn cổ điển mẫu mực của Trung Hoa . Ông viết toàn diện cả thơ - từ - văn xuôi .
  28. Ở Việt Nam , nhà thơ Nguyễn Công Trứ sống cuộc đời gian nan gần như Tô Thức , Là kẻ đồng điệu , đồng thanh tương ứng , ông đã sử dụng hai bài từ của Tô Thức viết lại thành hai bài ca trù : Vịnh" Tiền Xích bích " và " Hậu Xích bích " Chương III: Giới thiệu văn học nhà Nguyễn tạp kịch và hai tác giả Suốt từ 1271 - 1368 , Trung quốc lần đầu tiên bị ngoaị tộc thống trị : bộ tộc Mông Cổ. Một thế kỉ khổ đau vì áp bức bóc lột . Giới trí thức người Hán mất địa vị xã hội . Thơ văn sầu muộn còn vì nỗi khổ phân biệt chủng tộc, đẳng cấp . Một số thơ văn yêu nước , ca tụng anh hùng dân tộc , nhớ thương quá khứ độc lập tự do , hoài cổ Người Mông chấp nhận Hán hóa, tiếp tục tôn sùng Khổng Mạnh , chiêu hiền đãi sĩ , mở lại khoa cử , mua chuộc nho sĩ . Thơ văn quí tộc trở nên vụn vặt , nịnh hót , màu mè Ðến cuối Nguyên mới có văn thơ hiện thực . Hai thể loại tiêu biểu là tản khúc và tạp kịch gọi chung là khúc , cũng giống như phú đời Hán , thơ thời Ðường , từ Tống . . Tạp kịch là loại ca kịch viết bằng tản khúc . Tản khúc là một thể thơ mới , gần với dân ca nhưng đặt lời tự do . Tạp kịch còn gồm cả nhảy múa , hóa trang . Tạp Kịch phục vụ nhu cầu đô thị phồn vinh như Hàng Châu , Bắc Kinh ( đại đô ) . Người Mông thích múa hát nên khuyến khích , coi trọng diễn viên ca sĩ hơn người Hán . Tuy nhiên các nhà soạn kịch lại bị coi rẻ vì xuất thân trí thức nghèo . Hai nhà soạn kịch tiêu biểu -:Quan Hán Khanh và Vương Thực Phủ . Quan Hán Khanh ( 1220 - cuối tk 13 ) vừa sáng tác tạp kịch vừa làm diễn viên , 36 vở nay chỉ còn 12 vở . Ðược truyền tụng nhất là Cứu phong trần , Bái nguyệt đình , Ðơn đao hội . Nổi tiếng nhất là " Ðậu Nga oan " . Nhà thơ Quan Hán Khanh đựơc UNESCO phong tặng Danh nhân văn hóa thế giới . Ông viết bài thơ tự đánh giá mình : Bất phục lão ( Ông già bất khuất ) , ông tự coi mình là chàng công tử bột tầm thường , say mê tửu sắc , tục tằn. Sống giữa ca lâu tửu quán , có tài " bẻ liễu hái hoa " nhưng nguyện đem tài mình soạn kịch phục vụ những nghệ nhân diễn kịch bị xã hội coi là thấp hèn. Ông tự bằng lòng với đời mình , thích ca tụng cuộc sống ngắm trăng đẹp uống rượu ngon thưởng hoa thơm , đánh cờ , săn bắn , diễn kịch ngâm thơ ca vũ gảy đàn , dù chết không hề thay đổi . Vở kịch Ðậu Nga oan phê phán chế độ xã hội tàn bạo , khiến con người oan khuất . Còn có tên khác là Tuyết giữa ngày hè . Dựa vào câu chuyện trong sách Liệt Nữ truyện của Lưu Hướng đời Hánnhung đưa vào nội dung hiện thực đời Nguyên , không đề cao nhân vật nho giáo như Lưu Hướng . ( Nàng Ðậu Nga góa chồng khi còn trẻ , ở vậy thờ mẹ chồng là bà Thái . Bà sống bằng nghề cho vay lãi . Một hôm đi đòi nợ một ông lang , y không có tiền trả bèn lập mưu lừa bà ra đồng định thắt cổ bà cho chết . Vừa lúc , bố con Trương Lư đi qua . lão lang bỏ chạy . Bà Thái kể lại cho bố con Trương nghe . Bố con y tâm địa lưu manh , đòi bà Thái đền ơn . Chúng đòi bà Thái cưới lão Trương và gả cô con
  29. dâu cho con trai Trương . Ðậu Nga không bằng lòng , chúng tìm kế ép . Khi bà Thái nằm bệnh , Ðậu Nga nấu cháo cho mẹ , Trương Lư con bỏ thuốc độc vào cháo hòng giết bà Thái để nàng bơ vơ phải theo hắn . Không ngờ bà thái lại mời lão Trương ăn trước . Lão Trương lăn quay ra chết , Trương con uy hiếp Ðậu Nga dọa đưa lên quan . Nàng không chịu . Ra tòa , quan hành hạ nàng . Nàng nhận bừa để mẹ chồng khỏi bị đòn man rợ . Ra pháp trường , nàng xin một cái chiếu sạch đứng lên , treo một dải lụa trắng lên cột cờ bên cạnh và nói lời nguyền : nếu nàng chết oan thì máu nàng phun lên daỉ lụa chớ không rơi xuống đất , tuyết rơi xuống che phủ thân mình nàng , Trời đất sẽ làm đại hạn ba năm liền đất Sở Châu để trừng phạt . Kết quả đúng như nàng nguyền rủa . Ðoạn kết : cha nàng được làm quan , về xử lại vụ án chỉ là an ủi khán giả và trật ra ngoài mạch của vở kịch - nhà thơ buộc phải thêm đoạn này để tránh bị triều Nguyên kết tội ) . Vương Thực Phủ - nhà thơ soạn kịch lãng mạn . Vở tạp kịch " Tây Sương Kí " nổi tiếng nhất . Dựa theo truyện ngắn "Oanh oanh truyện" ( hoặc Hội chân kí ) của nhà thơ Nguyên Chẩn ( Nguyên Vi Chi ) thời nhà Đường . Ông cho kết thúc vở kịch với sự đoàn tụ Trương Quân Thụy và Thôi Oanh Oanh để chống lễ giáo phong kiến , cổ vũ tự do yêu đương với niềm tin tưởng mãnh liệt . Tóm tắt nguyên tác truyện ngắn Oanh Oanh truyện ( Hội chân kí ) của nhà thơ Nguyên Chẩn đời Ðường ( tự truyện ) : Chàng nho sinh Trương Quân Thụy sang đất Bồ chơi , ghé vãn cảnh chùa Phổ Cứu , gặp Thôi Oanh Oanh ở đây . Thôi phu nhân , mẹ nàng cùng gia nhân đưa thi hài quan Thôi tướng quốc mới mất về quê nhưng tạm lánh nơi đây chờ quê nhà yên loạn . Say mê nàng Oanh , Trương xin ở trọ chùa Phổ Cứu . Chàng ngâm thơ tỏ tình , nàng họa lại . Tướng cướp Tôn Phi Hổ đem quân vây hãm chùa , đòi cưới nàng Oanh . Thôi phu nhân tuyên bố ai giải vây chùa sẽ gả Oanh cho . Trương viết thư nhờ bạn là tướng quân Ðỗ Xác đóng gần đó dem lính tới giải vây . Thoát nạn , bà Thôi nuốt lời hứa , chỉ cho hai người kết anh em , với lí do trước đây Thôi tướng quốc đã hứa gả cho Trịnh Hằng cháu bà . Thụy và Oanh đều đau khổ . Trương ốm tương tư . Cô đầy tớ của Oanh là Hồng nương sang thăm . Trương viết thư nhờ Hồng đưa cho tiểu thư . Nhận thư , nàng mắc cỡ với cô hầu nên la mắng Hồng , làm bộ không nhận thư . Trương bệnh nặng hơn . Oanh gởi cho chàng bài thơ ngầm ý hẹn tối sẽ sang . Ðêm ấy , nàng sang phòng chàng , họ chung chăn gối .Từ đó , thỉnh thoảng họ lại hẹn hò qua lại . Thôi phu nhân biết thì đã muộn , hai người thú nhận tất cả . Bà bắt chàng cam kết khi về kinh thi đỗ mới cho kết hôn . Hai người chia tay nhau , chàng tặng nhẫn . Sau khi về kinh thi rớt , chàng tìm thú vui tình duyên mới mà lãng quên Oanh Oanh . Ở quê nhà , Oanh mỏi mòn trông ngóng , rồi nản lòng , thất vọng , hối hận . Mẹ nàng ép lấy Trịnh Hằng . Nàng chấp nhận quên mối tình xưa . Hai kẻ bẽ bàng ân hận . Vở tạp kịch Tây Sương kí của Vương Thực Phủ sửa đổi đoạn kết như sau :
  30. Khi Trương Quân Thụy đỗ trạng nguyên , còn phải vâng mệnh triều đình lưu lại kinh đô làm quan thì ở quê Trịnh Hằng phao tin Trương đã lấy vợ ở kinh .Thôi phu nhân tin thật liền cho Trịnh cưới nàng . Ngày đám cưới , chàng Trương tìm về , nhờ tướng Ðỗ Xác can thiệp , đe dọa và xỉ mắng Trịnh Hằng ướp vợ người . Y nhục nhã đập đầu vào cây chết . Tướng họ Ðỗ làm chủ hôn cho hai người . Nhân vật Hồng nương nổi bật như một nhân vật chính đáng ca ngợi nhất , người tạo dựng hạnh phú cho họ , dũng cảm khôn ngoan và đầy lòng tự trọng như một người bình dân cao thượng nhân đạo . Tư tưởng Nguyên Chẩn và Vương Thực Phủ đối lập hoàn toàn . Chương IV: Tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc ( tiểu thuyết thời Minh -Thanh ) Nói về những thành tựu nổi bật của văn học cổ điển Trung Quốc người ta thường kể : Tản văn trước Tần, Thơ Ðường, Từ Tống, Kịch Nguyên, và tiểu thuyết Minh Thanh. Minh Thanh là thời kỳ hoàng kim của tiểu thuyết Trung Quốc. Với các bộ sách Tam Quốc, Thuỷ Hử, Tây Du Ký, Liêu Trai Chí Dị, Chuyện Làng Nho, Hồng Lâu Mộng tiểu thuyết chương hồi Trung Hoa đã đạt đến trình độ hoàn chỉnh. Bởi vậy, tiểu thuyết thời Minh Thanh được gọi là tiểu thuyết cổ điển Trung Hoa. Bối cảnh lịch sử Sau gần một thế kỷ chịu sự đô hộ của người Mông Cổ, đến năm 1368, cuộc khởi nghĩa của Chu Nguyên Chương đã lật đổ vương triều Nguyên - Mông, lập nên nhà Minh. Nhà Minh (1368-1644) là triều đại phong kiến Hán tộc cuối cùng của Trung Hoa. Minh Thái tổ Chu Nguyên Chương là vị anh hùng xuất thân bình dân dấy binh khởi nghĩa dựng nên nghiệp lớn như Hán Cao tổ Lưu Bang ngày xưa. Ban đầu, họ Chu thi hành một số chính sách phát triển thuỷ lợi, hạn chế bọn cường hào, khôi phục công thương và thủ công nghiệp. Kinh tế - xã hội dần dần ổn định và có hướng phát triển phồn vinh. Nhưng càng về sau, giai cấp thống trị ngày càng hủ bại, ăn chơi xa xỉ, hoang dâm vô độ, đã mờ nhạt hình bóng người anh hùng họ Chu áo vải cờ đào. Chúng củng cố quyền lực bằng cách chặt bớt thủ hạ thay bằng con cháu họ hàng. Ðối nội thì tăng cường áp bức bóc lột dân chúng, đối ngoại thì tăng cường bành trướng lãnh thổ đối với Mông Cổ và các nước ở vùng biển Indonesia.( Năm 1407, Minh Thành tổ sai tướng Trương Phụ dẫn tám mươi vạn quân sang xâm chiếm nước ta , đổi tên An Nam thành Giao Chỉ hòng sáp nhập nước ta vào Trung Quốc . Sau hai mươi năm chịu ách thống trị tàn khốc của chúng, năm 1427 nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi đã giành lại độc lập.) Xã hội Trung Quốc ngày càng rối loạn, nhiều cuộc bạo động nông dân và tranh chấp bè đảng liên tiếp nổ ra. Cuối cùng cuộc khởi nghĩa nông dân do Lý Tư
  31. Thành và Trương Hán Trung lãnh đạo đã lật đổ nhà Minh. Vua Sùng Trinh - ông vua Hán cuối cùng - phải thắt cổ tự tử. Nhưng khi Lý Tư Thành chưa kịp củng cố chính quyền thì viên đại thần nhà Minh là Ngô Tam Quế đã rước quân Mãn Thanh vào cửa ải. Chúng đánh chiếm Bắc Kinh, đánh rộng ra toàn quốc và lập nên nhà Thanh. Nhà Thanh (1644 - 1911) là triều đại ngoại tộc thứ hai, sau nhà Nguyên (Mông Cổ) đã thống trị Trung Quốc. Mãn Thanh cũng như Mông Cổ, là một nước nhỏ và lạc hậu so với Trung Quốc. Nhà Thanh phải áp dụng chính sách trấn áp nô dịch khắc nghiệt tàn bạo để cai trị một đất nước rộng lớn , người đông có nền văn hoá phát triển cao. Họ bắt người Trung Hoa theo phong tục Mãn Thanh . Tám mươi năm đầu, đất nước Trung Quốc ngập trong máu và nước mắt dưới chính sách cai trị bằng lưỡi gươm và tệ phân biệt chủng tộc. Nhưng dần dần, giai cấp thống trị Mãn Thanh lại chịu Hán hoá, tức là họ học tập các nền chính trị, văn hoá Trung Hoa để cải cách kinh tế - xã hội. Càn Long (Kiền Long) là thời kỳ phồn vinh nhất của đế chế Mãn Thanh. Chính sách bành trướng lại được tăng cường. Năm 1788 tướng Tôn Sĩ Nghị đưa quân sang xâm chiếm Việt Nam nhưng bị thất bại thảm hại. Việc bành trướng lãnh thổ càng làm cho mâu thuẫn giai cấp và dân tộc vốn có trở nên sâu sắc và phức tạp. Mầm mống kinh tế tư bản chủ nghĩa từ đời Minh nay càng phát triển , đối lập gay gắt với nền chuyên chế phản động đã bước vào buổi xế chiều. Nhà Thanh trị vì được 267 năm, đến cuộc cách mạng Tân Hợi 1911 mới bị lật đổ. Nhưng ngay từ năm 1840 - năm Chiến tranh Thuốc phiện , các đế quốc phương Tây đã nhảy vào xâu xé Trung Quốc . Sau khi nhà Thanh sụp đổ thì Trung Quốc trở thành xã hội nửa phong kiến nửa thuộc địa . Ðó là chế độ chính trị chuyên chế lỗi thời và phản động. Mâu thuẫn xã hội ngày càng phức tạp và sâu sắc, người nông dân chịu đựng đủ các kiểu bóc lột của chính quyền các cấp, của tư bản thương nghiệp thâm nhập nông thôn và lãnh đủ tai hoạ chiến tranh bành trướng. Ðến đời nhà Thanh, mâu thuẫn dân tộc lại nổi lên giữa người Hán yêu nước và kẻ ngoại bang Mãn Thanh. Giai cấp thống trị áp dụng một chính sách văn hoá tàn bạo. Họ ra sức đề cao "lý học" tức là Tống Nho - đạo Khổng được cải biên, giải thích lại nhằm phục vụ cho chế độ phong kiến tập quyền. Ðề cao tư tưởng mệnh trời, khuyên nhủ an phận thủ thường, với các luân lý "tam cương, ngũ thường". Chế độ giáo dục thi cử xoay quanh các bộ sách Tứ thư và Ngũ kinh nhằm hạn chế tự do tư tưởng. Cách đào tạo nhân tài như vậy chỉ sản sinh ra những con "mọt sách" (như trong tiểu thuyết Hồng Lâu Mộng, Giả Bảo Ngọc đã chế diễu cách học hành và thi cử thời đó). Ngoài ra, họ còn khuyến khích trí thức khảo cứu sách cổ để quên đi thời cuộc trước mắt. Chúng áp dụng chính sách kiểm duyệt và khủng bố văn nghệ sĩ trí thức. Tình hình văn học
  32. Ta có thể gọi chung là giai đoạn văn học Minh - Thanh vì cơ sở kinh tế , chính trị xã hội văn hoá hai triều này căn bản giống nhau. Giai đoạn văn học này chỉ tính đến 1840 khi Chiến tranh Thuốc phiện nổ ra ( chứ không tính đến 1911 khi ông vua cuối cùng nhà Thanh là Phổ Nghi bị lật đổ). Bởi vì sau chiến tranh thuốc phiện, xã hội Trung Quốc đã thay đổi về bản chất. Văn học cũng bắt đầu chuyển sang thời kỳ cận - hiện đại. Văn học Minh -Thanh là giai đoạn cuối cùng của văn học cổ điển Trung Quốc, có nội dung phong phú nhất và là giai đoạn đánh dấu sự chuyển mình sang khuynh hướng hiện đại. Ðây là lúc văn học dân chủ và tiến bộ trỗi dậy mạnh mẽ, phản ánh những yêu cầu và khát vọng của nhân dân, đặc biệt tầng lớp thị dân. Văn học chính thống suy tàn theo cùng chế độ phong kiến. Văn học chính thống là thơ từ, tản văn (văn xuôi) chỉ nhằm ca ngợi công đức các bậc đế vương, ca tụng cảnh sống thanh bình yên ả của thời đại. Nghệ thuật bắt chước người xưa theo lối phục cổ. Số nhà văn " chính thống " này khá đông, sáng tác nhiều vô kể nhưng chẳng có mấy ý nghĩa. Tuy nhiên khi nhà Thanh mới lên, họ cũng sáng tác một số thơ văn yêu nước. Hai thể loại mới là hí khúc và tiểu thuyết phát triển mạnh mẽ đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân , đặc biệt thị dân đông đảo. Hí khúc là ca vũ kịch dân tộc còn gọi là truyền kỳ, nội dung có nhiều màn, nhiều lớp, nhiều nhân vật. Hí khúc có ít nhiều giá trị hiện thực , có tính phúng dụ và dân chủ song không phát triển được vì tác giả chủ yếu là giới văn nhân quí tộc. Dần dần hí kịch dân gian ở các địa phương như Kinh kịch , Côn kịch , Việt kịch nổi lên thay thế. Ðáng kể nhất là tiểu thuyết chương hồi, tuy không được coi là chính thống nhưng đạt được thành tựu tiêu biểu cho cả giai đoạn này. Các nhà nho thường chỉ coi trọng thơ và tản văn, họ cho tiểu thuyết là thứ văn thô kệch của kẻ tiểu nhân. Tiểu thuyết dù là phi chính thống nhưng đáp ứng nhu cầu nhân dân, đã có hàng vạn tác phẩm lớn nhỏ, trong đó Tam Quốc, Thuỷ Hử, Tây Du , Hồng Lâu Mộng, Liêu Trai Chí Dị, Chuyện Làng Nho ( Nho lâm ngoại sử ) được nhân dân cả nước ưa chuộng. Thật ra tiểu thuyết Trung Quốc đã trải qua hàng chục thế kỷ phôi thai và hình thành dần mới đạt tới trình độ cổ điển như vậy. Một số đặc điểm của tiểu thuyết Minh - Thanh Tiểu thuyết này là dạng trung gian giữa truyện kể sử thi và tiểu thuyết (hiện đại). Ta thử so sánh với tiểu thuyết hiện đại : Kết cấu : Theo trình tự tự nhiên (trình tự thời gian), cái gì xảy ra trước kể trước, xảy ra sau kể sau. Không đảo ngược thứ tự như tiểu thuyết hiện đại dựa theo diễn biễn tâm lý nhân vật. Tính cách nhân vật : Ðược thể hiện dần dần qua ngôn ngữ và hành động, không cần sự thuyết minh phân tích của nhà văn (như hiện đại).
  33. Thủ pháp ước lệ và công thức : được dùng trong miêu tả, lý giải -đó là thủ pháp miêu tả điển hình của văn cổ - trung đại. Thực ra, tiểu thuyết Minh và Thanh có khác nhau chút ít. Tiểu thuyết Minh phần lớn là sáng tác dân gian được nhà văn bác học viết lại, có căn cứ theo sử sách và in rõ dấu vết chuyện kể dân gian. Tiểu thuyết Thanh phần lớn là sáng tác cá nhân ít chịu ràng buộc bởi sử sách , gần với tiểu thuyết hiện đại hơn. Tiểu thuyết Thanh có bước tiến rõ rệt về nghệ thuật. Ta có thể gọi tiểu thuyết Minh là tiểu thuyết anh hùng, còn tiểu thuyết Thanh là tiểu thuyết sinh hoạt (tâm lý xã hội). Tác phẩm Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân như là cái bản lề - trung gian giữa hai loại tiểu thuyết trên . Một số tác phẩm tiêu biểu TAM QUỐC DIỄN NGHĨA Ðây là bộ tiểu thuyết "giảng sử", thường gọi tắt là "tam quốc" xuất hiện vào đầu nhà Minh, của nhà văn La Quán Trung ( 1330 - 1400 ). Tác giả đã dựa vào những nguồn gốc, tài liệu sau: • "Tam Quốc Chí " của nhà sử học Trần Thọ đời Tấn • "Tam Quốc chí chú " của Bùi Tùng Chi thời Nam bắc triều. • Một phần truyện kể "Tam Quốc Chí bình thoại" đời Nguyên. • Truyền thuyết và dã sử do tác giả sưu tầm. Với tài năng sáng tạo, La Quán Trung đã viết thành bộ truyện dài đầu tiên của văn học Trung Quốc. Ðến nay, do tình trạng tam sao thất bản nên có nhiều bản Tam Quốc khác nhau. Nhưng bản lưu hành rộng rãi nhất cho đến ngày nay là bản do hai cha con nhà phê bình văn học đời Thanh là Mao Luân và Mao Tôn Cương sửa chữa và chỉnh lý. Tam quốc tái hiện lại một thế kỉ loạn lạc điên đảo do tham vọng tranh giành quyền lực và lãnh thổ của các đế vương Trung Hoa gây ra. Tiểu thuyết này tuy có hư cấu song căn bản phù hợp với lịch sử. Ðó là bộ mặt thời Tam Quốc (220 - 280) cũng là bộ mặt quen thuộc của xã hội phong kiến Trung Hoa ở mọi thời : phân rồi hợp, hợp rồi phân - đó là tình huống lặp đi lặp lại hầu như đã thành qui luật . Tham vọng bành trướng thế lực và lãnh thổ của vương hầu, khanh tướng khiến đất nước điêu linh, nhân dân khốn khổ. Nhà thơ Vương Xán cùng thời Tào Tháo đã viết câu thơ "ra ngõ toàn xương trắng. phủ kín cả bình nguyên". Chính Tào Tháo cũng làm thơ như sau : " áo giáp sinh chấy rận. Chết sạch trơn một nhà. Khắp đồng phơi xương trắng. Vạn dặm không tiếng gà. ". Cả ba tập đoàn Ngụy, Thục, Ngô đều muốn thống nhất quốc gia dưới quyền cai trị riêng của mình. Mặc dù viết truyện lịch sử, tác giả cũng không miêu tả một cách khách quan mà vẫn bộc lộ thái độ tình cảm của mình . Ông đã vạch trần tội ác của giai cấp
  34. thống trị đối với nhân dân và ngay cả với nội bộ của chúng. Ðổng Trác tàn ác giết dân lành , Lã Bố hai lần giết bố nuôi. Hai anh em Gia Cát Lượng và Gia Cát Cẩn coi nhau như kẻ thù. Ðặc biệt, Tào Tháo không từ một thủ đoạn nào cốt đạt được mục đích. Dưới ngòi bút sinh động của tác giả, các nhân vật hiện lên để chứng minh một qui luật đáng sợ của chế độ phong kiến Trung Hoa : cá lớn nuốt cá bé, người ăn thịt người. Nhà văn đã vượt qua tư tưởng chính thống của mình , để miêu tả đúng qui luật cuộc sống, Ông xứng đáng là nhà văn hiện thực vĩ đại. GỢI Ý PHÂN TÍCH MỘT SỐ NHÂN VẬT CHÍNH Tào Tháo là hình tượng nhân vật được xây dựng thành công nhất trong bộ tiểu thuyết. Tào Tháo quả là người có bản lĩnh khi ông ta yêu cầu một mưu sĩ đánh giá về mình . Quản Lộ đã nói thẳng :" Ông là năng thần thời trị , gian hùng thời loạn ". Ðó là một nhận xét sắc sảo về bản tính Tào Tháo. Thực tế, Tào Tháo chính là con đẻ của thời loạn Tam Quốc " tiêu biểu cho hàng ngàn Tào Tháo có thực của lịch sử "đại loạn " Trung Hoa. Tào Tháo đã trở thành một điển hình xuất sắc của giai cấp phong kiến Trung Hoa. Tác giả cho Tào Tháo xuất hiện như sự kế thừa tên thừa tướng Ðổng Trác vốn nổi bật ngay từ đầu tác phẩm. Khi Táo Tháo chưa lập được công trạng gì thì Ðổng Trác đã làm mưa làm gió ở kinh thành Lạc Dương. Ðổng Trác là tên đồ tể tham lam, độc ác nên không tránh khỏi số phận bị phanh thây đốt xác ngoài chợ. Tào Tháo thay chân y, không kém phần tàn bạo nhưng lại khôn ngoan quỷ quyệt sống đời đế vương và chết với mồ yên mả đẹp. Nhà văn đã bằng những sự việc cụ thể sinh động trong cuộc sống, dần dần vẽ lên bộ mặt trọn vẹn của nhân vật. Từ hồi nhỏ, Tháo đã dối chú, lừa cha đến nỗi thiên hạ đặt cho cái tên là Tào A Man (thằng bé họ Tào gian dối ). Lớn lên trong cuộc loạn lạc, cái nết trí trá trẻ ranh đã phát triển thành cái nham hiểm, xảo quyệt. Tháo từng nói "ta thà phụ người chứ quyết không để người phụ ta ". - Câu nói nổi tiếng đó phát ra sau khi y nhẫn tâm giết oan cả nhà ân nhân Lã Bá Sa (Hồi 4 ) chỉ vì lòng dạ đa nghi và sự tính toán tàn bạo - phải triệt tận gốc mầm trả thù. Cách sống cực đoan đó sẽ chi phối suốt cuộc đời Tháo. Nào là mượn đầu quản kho Vương Hậu để an lòng quân sĩ , cốt giữ được quân đội khỏi tan rã. Tháo cố giết Dương Tu mà tha giết Nễ Hành mặc dù Nễ Hành đã từng cởi truồng chửi mắng Tháo trước mặt ba quân. Còn Dương Tu là một kẻ có tài , hiểu ý đồ Tháo nhưng không hề có va chạm gì với y. Y nói :"người chửi ta, ai cũng biết cả, tha chết Nễ Hành, ta được mọi người cho là độ lượng. Nhưng người hiểu ý nghĩ của ta (Dương Tu) mà không giết thì nguy. Bởi khi có người biết ý mình thì không còn đánh lừa ai được nữa " (Hồi 13). Ngòi bút của La Quán Trung đối với Tháo vừa khiển trách vừa diễu cợt, vạch ra ba tính chất điển hình của Tháo là: Ða nghi, nham hiểm và tàn bạo. Tuy vậy tác giả không hề đơn giản hoá, miêu tả một chiều nhân vật này. Lúc nào tác giả cũng miêu tả Tháo là con người thông minh, có chí và ngoan cường. Hồi 21 tả sự kiện y bày đặt ra cuộc " Uống rượu bàn luận anh hùng" với mục đích dò xét ý
  35. đồ Lưu Bị , nói lên đầy đủ tầm mắt nhìn xa trông rộng cũng như bản lĩnh cao cường của Tháo vượt hẳn Lưu Bị . Những chuyện " Ðánh Trương Tú gợi rừng mơ " , " cắt tóc thay đầu " (hồi 17) thể hiện khả năng nhanh trí tháo vát của Tháo. Tào Tháo có nhược điểm kiêu ngạo nhưng ông ta vẫn trội bật giữa bọn quân phiệt như con công giữa đàn gà. Luôn luôn bị thôi thúc bởi khát vọng thống nhất toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc, giành lấy uy quyền tuyệt đối về tay mình , Tào Tháo đã bôn ba không mệt mỏi và nghĩ mọi cách để đạt được mục đích. Bắt sống Lã Bố ở Hạ Bì, phá tan Viên Thiệu ở Quan Ðộ, đánh đuổi Lưu Bị ở Lũng Hữu, tiễu trừ Ô Hoài ở Bạch Ðằng Ð ó là những chiến công lừng lẫy của Tào Tháo được lịch sử ghi nhận . Nhà văn vốn là nhà nho chủ trương " ủng Lưu phản Tào" cũng không thể không thừa nhận tài năng và công lao Tào Tháo . Tào Tháo có tài năng, có chí khí , bản lĩnh nhưng tàn bạo quyết đạt mục đích bằng mọi giá. Tào Tháo vừa thông minh vừa đa nghi , có trí tuệ và nham hiểm, ngoan cường và tàn bạo. Lẽ nào đúng như thành ngữ dân gian : " bất độc bất anh hùng " ( ?! ) Tào Tháo có cách ứng xử cẩn thận , chu đáo , trọng kẻ tài năng quí người nghĩa khí . Nhiều khi Tào vượït qua cái tự ái của tiểu nhân mà làm ngưòi quân tử , hơn nữa được nhiều người khâm phục là bậc anh hùng . Cái chất anh hùng và chất gian giảo kết hợp làm một . Tào Tháo là một điển hình lãnh chúa gian hùng. Bao đời nay, nhân dân Trung Quốc và Việt Nam vẫn hiểu Tào Tháo như một kẻ gian hùng và thường nói " đa nghi Tào Tháo " ," nham hiểm như Tào Tháo ", "cái cười Tào Tháo ", " Tào Tháo đuổi " v.v Nhân vật Tào Tháo của lịch sử có khác với Tào Tháo của tiểu thuyết. Với tư cách là một điển hình văn học, nhân vật Tào Tháo đã được chấp nhận là đại biểu của bọn phong kiến thống trị nham hiểm và tàn bạo. Với quan điểm " ủng hộ Pháp Gia ", mấy chục năm qua, có những người õ bênh vực, thanh minh cho Tào Tháo (kể cả Tần Thuỷ Hoàng, Võ Tắc Thiên) hoặc viết kịch để chứng minh Tháo là người "nhân hậu, vì dân " , để uốn nắn cách hiểu "sai lệch" và " thành kiến" của quần chúng . Dù sao, chuyện Tam Quốc vẫn in sâu trong tâm trí nhân dân và nhân vật Tào Tháo vẫn khó tránh khỏi bị nguyền rủa . Bộ phim truyện lịch sử Tào Tháo vừa đựoc chiếu trên truyền hình Việt Nam cho thấy một khuynh hướng khách quan hơn khi thể hiện hình tượng Tào Tháo trên điện ảnh hiện đại . Lưu Bị là nhân vật đối lập với Tào Tháo cũng như nhà Lưu Thục đối lập với tập đoàn Tào ngụy. Còn Ðông Ngô chỉ là lực lượng trung gian, là đối tượng co kéo tranh thủ của cả hai phía. Lưu Bị là nhân vật lý tưởng của La Quán Trung. Dưới mắt tác giả, tập đoàn Lưu Thục là chính nghĩa, bởi nhà văn thấm nhuần tư tưởng Hán chính thống. Lưu Bị thuộc dòng dõi nhà Hán, không tỏ ra có tham vọng chiếm ngôi nhà Hán. Lưu Bị và tập đoàn của ông tương đối gần gũi nhân dân, có đường lối chính sách phù
  36. hợp với nguyện vọng của nhân dân hơn. Dã sử và truyện dân gian dành nhiều cảm tình cho phe Lưu Bị . Tác giả La Quán Trung cũng chịu ảnh hưởng khuynh hướng dân gian nên cảm tình và quan điểm của La Quán Trung phù hợp nguyện vọng của quần chúng về một ông vua tốt, thực hiện "nhân chính" (chính sách vì con người ). La Quán Trung sáng tác Tam Quốc Diễn Nghĩa trong hoàn cảnh đất nước vừa thoát khỏi cảnh khốn khổ điêu linh dưới ách cai trị của Mông Cổ, một phong trào phê phán bạo chúa nhằm xây dựng một minh quân đáp ứng thời đại nhà Minh nổi lên . Cảm hứng chung của thời đại chắc chắn ảnh hưởng chi phối ngòi bút của La Quán Trung . Bên cạnh đó, tác phẩm còn có tinh thần yêu nước và ý thức dân tộc. Lưu Bị đã trở thành hình tượng của một minh chúa lý tưởng. Những nhân vật anh hùng có tính lý tưởng của nhân dân đều thuộc về phía Lưu Thục. Và Tào Tháo phải bị hy sinh trở thành mặt tương phản đối lập cho nhân vật lí tưởng họ Lưu . Lưu Bị , người đứng đầu tập đoàn Thục Hán tiêu biểu của chữ "nhân". Lưu Bị được ưu thế "nhân hoà", Tào Tháo được "thiên thời" còn Tôn Quyền chỉ nhờ vào "địa lợi". Nhân vật Lưu Bị được mô tả như một minh chúa, lấy dân làm gốc, lấy tình nghĩa làm trọng, bôn ba bốn biển, thu phục hiền tài, long đong vì sự nghiệp khôi phục nhà Hán. Những sự việc như " kết nghĩa vườn đào" (hồi một), ba lần đến lều tranh mời Khổng Minh ra giúp nước (tam cố thảo lưu - hồi 26, 27, 28 ), không nỡ bỏ dân lành khi bị Tào Tháo đuổi, đóng quân ở Tân Dã mới vài tháng đã được dân chúng làm ca dao ca tụng (hồi 35) đều nói lên lòng nhân từ, thương dân, vì dân của ông. Lưu Bị như là con người đối lập với Tào Tháo. Ông như tấm gương trong suốt làm nổi bật lòng dạ phản trắc ,tâm địa xấu xa của kẻ gian hùng. Nếu Tào Tháo nói " Ta thà phụ người chứ quyết không để người phụ ta " thì Lưu Bị nói ngược lại " Ta thà chết chứ không làm điều phụ nghĩa ". Bắt mẹ để dụ con , Tào Tháo đã không mua chuộc được Từ Thứ. Ngược lại, tạo điều kiện cho Từ Thứ về với mẹ, Lưu Bị lại được Từ Thứ tiến cử Khổng Minh. Bức tranh tương phản này là sự chiến thắng của nhân nghĩa đối với bạo tàn. Lưu Bị so sánh mình với Tào Tháo như sau " Tháo nóng vội, ta thong thả. Tháo dùng bạo lực, ta dùng nhân nghĩa. Tháo dùng âm mưu quỉ kế, ta lấy lòng thành đối đãi ". Chung qui đó là đường lối chính trị lấy chữ "nhân" làm gốc, gọi là "nhân chính". Nhưng làm chi có một ông vua "nhân chính" như Lưu Bị trong xã hội phong kiến ? Do đó, ngòi bút nhà văn trở nên vẽ vời, tô điểm, muốn tả Lưu Bị là người nhân đức mà nhiều khi tỏ ra giả dối, gượng gạo. Lưu Bị nhiều lúc nhu nhược, thiếu quyết đoán. Nhân vật Lưu Bị tỏ ra mâu thuẫn khi dốc toàn lực cuối cùng nhằm trả thù cho Quan Công để trọn nghĩa vườn đào. Ðó là hành động mù quáng, không xứng đáng với trách nhiệm người đứng đầu Thục Hán - hy vọng của quần chúng nhân dân. Khổng Minh - một nhân vật lý tưởng khác được coi là hình tượng bổ sung vào sự khiếm khuyết của hình tượng Lưu Bị , đó là một đạo sĩ trí tuệ tuyệt vời, lòng trung thành vô hạn, với ý chí sắt đá quyết tâm xây dựng cơ đồ nhà Thục. Khổng Minh biết được số trời, biết vận nhà Hán sắp mất mà vẫn tận tụy phò Lưu dù
  37. chết không thay lòng đổi dạ. Khổng Minh đem lại vinh quang cho nhà Thục, khẳng định tính chất chính nghĩa của tập đoàn Lưu Bị. Nếu hình tượng Lưu Bị được chiếu sáng bởi chữ "nhân" thì hình tượng Khổng Minh lại rạng rỡ bởi chữ "trí". Nhân vật này là hoá thân của trí tuệ quần chúng mặc dù là nhân vật có thật. Là người học vấn uyên bác, nhìn xa trông rộng, công lao lớn nhất của Khổng Minh là định ra sách lược "hoà Ngô kháng Nguỵ" đúng đắn cho phía Lưu Bị , và do kiên trì thực hiện đường lối đó nên đã duy trì được cơ nghiệp nhà Thục trên ba mươi năm. Ông có khả năng dự đoán tình thế, biết địch biết ta, nhiều mưu mẹo, linh hoạt trong chiến thuật để đạt được chiến thuật đã vạch sẵn. Cuộc đấu tranh khi căng thẳng, lúc ôn hoà của ba tập đoàn phong kiến là cuộc đấu tranh quân sự và chính trị , Khổng Minh là nhân vật trung tâm của cuộc đấu tranh đó. Trong cuộc đấu trí giữa ba tập đoàn, Khổng Minh hầu như chưa lần nào thua thiệt. Trên vũ đài chính trị , Tào Tháo chỉ sợ có một Khổng Minh. Có thể thấy rằng hình tượng Khổng Minh là thể hiện ước vọng của quần chúng về một trí tuệ hơn người, một mưu sĩ trác việt. Những mưu mẹo kế hoạch của Khổng Minh có dáng vẻ truyền thuyết dân gian, nghe rất hồn nhiên và bất ngờ như câu đo ámẹo. Nhà văn đã miêu tả sinh động phẩm chất bác học của Khổng Minh qua các đoạn "thiệt chiến quần nho" (Trận đánh bằng lưỡi - tranh luận , hùng biện với những nho sĩ xứ Giang Ðông - hồi 43 ), Du thuyết Tôn Quyền (hồi 42) Ông là lý tưởng của quần chúng về một mẫu người hiền sĩ , là nhân vật siêu phàm và lãng mạn. Sự nghiệp của Lưu Bị sẽ không thành nếu thiếu Khổng Minh nhưng cũng sẽ không thành nếu không có Quan Vu õ,Trương Phi , Triệu Vân dũng cảm (và Mã Siêu , Hoàng Cái). Quan Vũ là người đứng đầu "Ngũ Hổ Tướng". Nhân vật này xuất hiện từ khi kết nghĩa vườn đào, nguyện cùng sống chết với Lưu Bị , Trương Phi. Trong suốt cuộc đời tranh đấu vì sự nghiệp nhà Hán, ông luôn luôn là người anh hùng xuất chúng. Ba mươi năm xông pha trận mạc, văn võ song toàn , rồi cuối cùng vì ngạo mạn chủ quan mà bỏ mạng lúc 58 tuổi . Ðó là ba mươi năm khí phách anh hùng và lòng trung trinh vô hạn của ông trải qua những hoàn cảnh thử thách gay go. Cái chết của ông đối lập với cái chết hèn hạ của Lã Bố. Khi Quan Công chết rồi, Tào Tháo mới nhẹ nhõm thốt lên "từ nay ta ngả lưng mới dính chiếu" (ngủ yên). Nét nổi bật của Quan Công lại là tinh thần nghĩa khí . Ðọc Tam Quốc, người ta thường nhắc nhở "tam tuyệt": Tào Tháo tuyệt gian, Khổng Minh tuyệt trí, Quan Công tuyệt nghĩa. Suốt đời, Quan Công đặt chữ "nghĩa" trên đầu , coi đó là phẩm chất hàng đầu của con người. Nghĩa ở đây bao gồm trung nghĩa (trung thành với lí tưởng chính trị ) và tín nghĩa (giữ niềm tin trong quan hệ xã hội ). Ðó là trung thành mãi mãi với nhà Thục Hán và giữ trọn tình ba anh em kết nghĩa vườn đào. Nhà văn đã dày công xây dựng tính cách đó trong suốt các hồi 25, 26 và 27. " " thân tại Tào doanh, tâm tại Hán".(() Quan Công sống theo đạo quân tử, "trung thần không thờ hai chúa". Nhưng mối quan hệ Quan Công - Lưu Bị thực ra không phải là vua - tôi mà là anh- em.
  38. Thực chất Quan Công đã đặt tín nghĩa trên trung nghĩa . Nếu không có tình anh em, có thể Quan Công đã đi theo Tào Tháo.( Sau này, trong nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân, quần chúng đã dùng hình thức kết nghĩa vườn đào để tập hợp lực lượng. Nhà Thanh cũng lợi dụng hình ảnh Quan Công mà phong tặng ông là "Trung Nghĩa thần vũ đại đế" và cho dựng đền Quan Thánh ở khắp nơi. (() Nhà văn lại xây dựng nhân vật Trương Phi có tín nghĩa rõ ràng , bạn - thù rành mạch, để phê phán tính mơ hồ lẫn lộn trong chữ "nghĩa" của Quan Công. Ðó là con người bộc trực, ngay thẳng, trước sau như một, ít chịu ràng buộc của lễ giáo, không cần day dứt nghĩ trước nghĩ sau. Trương Phi rất nóng nảy nhưng lại biết phục thiện. "Nóng như Trương Phi" là nóng lòng xoá sạch bất công , nóng tìm kiếm lẽ phải và hành động chứ không phải kẻ thô bạo nóng nảy . Ðặc biệt, Phi là một bức tranh đẹp về tinh thần thượng võ. Nhược điểm của Phi là có lúc tỏ ra cậy sức ,"hữu dũng vô mưu". Trương Phi là một nhân vật sinh động trong Tam Quốc. Năm anh em Lưu Bị và nhiều người khác đều là những nhân vật sống sôi nổi, lập nhiều công tích trong thời Tam Quốc đầy biến động . Hình ảnh của họ hiện lên rạng rỡ trong tâm trí người đọc đủ mọi tầng lớp xã hội. Người đọc tìm thấy trong tài năng , đức độ và hành động anh hùng của họ một niềm an ủi cổ vũ cho cuộc đời gian nan của mình .  Tam Quốc là câu chuyện dài trăm năm, có hàng ngàn sự việc, hàng trăm trận đánh và hơn bốn trăm nhân vật. Tác phẩm có dung lượng thật đồ sộ. Tài năng của nhà văn trước hết thể hiện ở nghệ thuật kết cấu. Ðó là một kết cấu hùng vĩ, mạch lạc rõ ràng. Người xem không bị rối loạn bởi nhiều sự kiện và hàng loạt nhân vật. Tính mạch lạc này là do khuynh hướng tình cảm của nhà văn tạo nên. Ông đã sắp xếp nhân vật thành các trận tuyến khác nhau, cho đan chéo vào nhau theo logique của đời sống và tình cảm của mình đặt ở nhà Thục Hán. Ðặc biệt, lối miêu tả chiến tranh cũng là một tài năng tuyệt vời của La Quán Trung. Chẳng hạn, trận Xích bích , Thục - Ngô phá Tào Ngụy (từ hồi 43 đến 49) là một chiến dịch tổng hợp, thuỷ chiến và hoả công, đấu tranh ngoại giao, chiến tranh gián điệp, chiến tranh tâm lí Trong trận Xích bích giữa hai phe Tôn Ngô và Tào Nguỵ, lại có trận Xích bích giữa Gia Cát Lượng và Chu Du. Giữa Xích bích gươm giáo lại có một Xích bích trăng thơ. Nhà văn miêu tả quá trình hình thành trận đánh dài 6 hồi liền mà không nói gì về trận đánh. Chuẩn bị thì lâu dài, tốn công phu nhưng khi trận đánh bùng nổ thì kết thúc ngay. Nhà văn thiên Tài La Quan Trung rất am hiểu binh pháp, lại có công phu nghiên cứu tận tường địa hình, địa vật, thời tiết, con người .v. v nên ông giúp người đọc như sống lại với thời kì lịch sử xa xưa. Nghệ thuật xây dựng nhân vật của La Quán Trung có một số đặc điểm ảnh hưởng lớn đến đời sau. Ðó là nắm chắc đặc tính cơ bản của nhân vật, dùng nhiều cách để tô đậm nó, gieo ấn tượng. Qua so sánh với nhân vật khác, tính cách nhân vật dần dần hiện lên. Ðấy là thi pháp tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc: ít miêu tả ngoại hình và diễn biến nội tâm , chỉ chú ý miêu tả ngôn ngữ hành
  39. động và sự nghiệp để dựng nên tính cách nhân vật. Tuy vậy, nhiều chi tiết phong phú đa dạng vẫn làm hiện lên được đời sống nội tâm của nhân vật. Câu văn Tam Quốc dễ đọc , dễ hiểu nên được phổ biến rộng rãi, trở thành bộ tiểu thuyết đầu tiên cho thể loại. Người bình dân Trung Quốc, nhờ những bộ sách như thế mà hiểu được lịch sử nước nhà, học được cách đối nhân xử thế và nhận thức được âm mưu thủ đoạn của bọn thống trị. Tam Quốc diễn nghĩa như một bộ "sách giáo khoa nhiều mặt", nó được phổ biến ở nhiều nước, nhất là vùng Ðông Nam Á . Nhiều nhân vật và sự kiện đã thành điển cố trong văn học Việt Nam. Ðó là hiện tượng thông thường trong giao lưu văn hoá , đặc biệt trong quan hệ hai nền văn hóa Trung -Việt . Chú Ý : Vào giai đoạn nhà văn La Quán Trung viết bộ sách , thời nhà Minh có phong trào trở về chính thống , ca ngợi hình mẫu minh quân . Theo quan điểm lịch sử chính thống và cảm hứng thời đại , ông đả kích Tào nghĩa là ca ngợi Hán , nhằm mục đích so sánh Chu Thành tổ dựng nghiệp nhà Minh tương tự như Lưu Bang dựng Hán . Aáy cũng là " văn học phục vụ chính trị " vậy - nhưng vấn đề này thuộc phạm trù văn học cổ điển phương Ðông . Chương V: Văn học hiện đại Trung Quốc Nhà văn Lỗ Tấn (1881 - 1936) Lỗ Tấn - người đặt nền móng cho văn nghệ cách mạng Trung Hoa Thân thế sự nghiệp: Lỗ Tấn tên thật là Chu Thụ Nhân, tự là Dự Tài, Lỗ Tấn là bút danh. Ông sinh 25- 9- 1881 tại huyện Thiệu Hưng, tỉnh Triết Giang. Gia đình vốn là quan lại sa sút. Ông nội là Chu Giới Phu từng làm quan trong triều đình nhà Thanh, bị cách chức hạ ngục năm Lỗ Tấn 13 tuổi. Thân sinh là Chu Bá Nghi, đỗ tú tài cũng năm đó rồi lâm bệnh nặng, ba năm sau vì không có thuốc chữa trị mà mất. Mẹ là Lỗ Thụy người phụ nữ nông thôn trung hậu, kiên nghị, phẩm chất của bà có ảnh hưởng rất lớn đến Lỗ Tấn. Bút danh của ông đã chứng tỏ điều ấy. Lỗ Tấn sống trong thời đại xã hội Trung quốc có nhiều biến động lớn lao nhất là sau năm 1919 với ảnh hưởng của Cách Mạng Tháng Mười Nga. Cuộc đời ông trải qua hai cuộc cách mạng : cách mạng dân chủ kiểu cũ - cách mạng Tân hợi (do giai cấp tư sản lãnh đạo) và cách mạng dân tộc dân chủ kiểu mới do giai cấp vô sản và Ðảng cộng sản Trung quốc lãnh đạo. Cuộc đời, sự nghiệp và quá trình tư tưởng của Lỗ Tấn có thể chia ra ba giai đoạn như sau: THỜI KỲ TRƯỚC NGŨ TỨ (1881- 1918 ) Thời thơ ấu từ 6 đến 17 tuổi, Lỗ Tấn học ở trường tư thục quê nhà . Ôâng học rất thông minh. Ðọc hầu hết các thư tịch cổ Trung Quốc. Ðặc biệt thích đọc dã sử, thích nghe truyền thuyết, xem hát tuồng và tranh dân gian. Thị hiếu và sở trường văn nghệ của ông được hình thành từ sớm. Mặt khác, vì gia đình sa sút, ông hay đi lại với con em nông dân lao động ở quê nhà. Tắm mình trong tình
  40. cảm chân thành và hồn hậu ấy, Lỗ Tấn "bú được sữa sói rừng" mà lớn lên, dần dần trở thành "đứa con bất hiếu" của giai cấp phong kiến,"bề tôi hai lòng"của tầng lớp thân sĩ. Xã hội Trung Quốc biến động kịch liệt, chính quyền Mãn Thanh quì gối đầu hàng trước sự xâm lăng của các đế quốc, phong trào yêu nước của nhân dân phát triển rầm rộ. Lỗ Tấn được cổ vũ mạnh mẽ. Ông giã từ gia đình và quê hương, đi tìm đường hoạt động. Năm 18 tuổi, Lỗ Tấn đến Nam Kinh, thi vào Thuỷ sư học đường (đào tạo nhân viên hàng hải). Hai năm sau lại thi vào Khoáng lộ học đường (đào tạo kỹ sư mỏ). Ðây là những trường tây học, dạy kiến thức khoa học mới, khác hẳn với các trường hán học chỉ dạy " tứ thư , ngũ kinh ". Tầm mắt anh mở rộng, thay đổi nếp tư duy. Hoài nghi truyền thống cũ và hướng đến sự cải cách , Lỗ Tấn rất say mê cuốn "thiên diễn luận " của Husley nhà sinh vật học người Anh - giải thích sự biến hoá vũ trụ và vạn vật theo quan điểm thuyết tiến hoá Darwin (nhà sinh học vĩ đại Anh). Lỗ Tấn chịu ảnh hưởng sâu sắc và từ đó, thế giới quan của ông chịu sự chi phối của thuyết tiến hoá trong một thời gian tương đối dài. Ông tin tưởng rằng " sinh mệnh lớp sau bao giờ cũng có ý nghĩa hơn, hoàn thiện hơn lớp trước, tương lai sẽ sáng sủa hơn hiện tại vì lực lượng mới sẽ thay thế lực lượng cũ. Từ đó ông ca ngợi sự đổi mới, kêu gọi phản kháng , căm ghét truyền thống trì trệ. Năm 1902, sau khi tốt nghiệp Khoáng lộ học đường, Lỗ Tấn được chọn đi du học ở Nhật Bản. Trước tiên ông học ngành y. Ông muốn dùng y học để cứu dân, trước hết là chữa chạy cho những người nghèo đói, dốt nát, mê tín khỏi bị chết oan như bố ông. Học sinh Trung Quốc học ở Nhật khá đông. Quang Phục Hội là tổ chức lãnh đạo cách mạng Tân Hợi (1911) sau này, cũng hoạt động sôi nổi ở Tokio. Lỗ Tấn tham gia Quang Phục Hội với quyết tâm cứu nước. Về sau, nhân một lần xem phim , ông bị kích động mạnh mẽ và chuyển sang làm văn nghệ (ông thấy người Trung Quốc vui thú khi xem phim có cảnh người Nhật chém một người Trung Hoa vì tội làm gián điệp cho quân Nga thời chiến tranh Nga Nhật). Lỗ Tấn nghĩ rằng chữa bệnh cho họ về thể xác còn chưa quan trọng bằng chữa bệnh cho họ về tinh thần. Từ đó ông quyết tâm dùng ngòi bút để thức tỉnh tinh thần dân tộc và ý chí tự lập tự cường của người Trung Hoa. Ông ra sức phiên dịch giới thiệu các trước tác khoa học cũng như các tác phẩm văn nghệ thế giới. Ðặc biệt ông viết tập " Sức mạnh của dòng thơ ma quỷ" giới thiệu những nhà thơ đấu tranh cho tự do như Byron, Shelli (Anh) Puskine, Lermontov (Nga) v.v với hy vọng mượn ý chí phản kháng và quyết tâm hành động của họ để thức tỉnh tinh thần dân tộc. Hai năm trước Cách mạng Tân Hợi, năm 1909 vì gia đình quẫn bách, Lỗ Tấn dời Nhật trở về nước nuôi mẹ và em. Ông dạy học ở các trường trung học quê nhà và làm hiệu trưởng trường sư phạm Thiệu Hưng. Năm 1911, Cách mạng Tân Hợi bùng nổ, ông hưởng ửng sôi nổi. Nhưng ngoài cái danh hiệu "Trung Hoa dân quốc ", cuộc cách mạng tư sản này không đem lại cho xã hội Trung Quốc sự thay đổi nào đáng kể. Lỗ Tấn không khỏi thất vọng. Còn đối với Cách mạng vô sản , ông chưa có nhận thức rõ ràng, phần nào hoài nghi, giai cấp